Chúa Nhật V thường niên - Năm C
 
 

CHÚA NHẬT 5 THƯỜNG NIÊN C

MẺ CÁ LẠ LÙNG

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT


Lc 5, 1-11

Đọc Tin Mừng của Chúa Giêsu, ta như thấy có một cái gì đó thật xuyên suốt, thật chặt chẽ và rất ư gợi hứng, gợi hình gợi cảm. Từng biến cố, từng sự việc đều được Chúa Giêsu lấy ra từ những câu chuyện, những việc xẩy ra trong đời thường để gởi gắm sứ điệp, dậy dỗ môn đệ và nhân lọai muôn thời. Đọan Tin Mừng hôm nay cho thấy một cảnh rất đời thường bên biển hồ Ghen-nê-xa-rét, nhưng đó lại là một việc làm hết sức thực tế,và hết sức cảm động của Chúa Giêsu khi Ngài làm phép lạ cho mẻ cá đầy ắp lưới, một việc màcác môn đệ như Simon, Anrê, Giacôbê và Gioan đã lục hục suốt đêm mà không tài nào làm nổi…


MẺ LƯỚI QUÁ LẠ LÙNG:

Tin Mừng Luca viết :” Simon và các bạn chài đã vất vả suốt đêm mà không hề bắt được con cá nào cả, dù họ là những ngư phủ lành nghề. Họ biết chỗ nào cá có nhiều, chỗ nào sâu, chỗ nào cạn, chỗ nào cá sủi bọt, chỗ nào cá hay tới ăn và đi theo bầy. Nhưng đêm qua từ chập tối cho tới sáng Simon và các bạn đã mệt nhòai, đã mất ngủ hầu như trắng mắt, vẫn không có một con cá nào vào lưới. Đức Giêsu đã có mặt đứng đó trên bờ biển Ghen-nê-xa-rét từ sáng sớm và rồi hiểu được sự khốn quẫn của các môn đệ, Chúa truyền lệnh cho Simon và các bạn ra khơi thả lưới. Simon không dám cưỡng lại lời Chúa, dù ông đang mệt, ông muốn nghỉ ngơi, ông muốn ngủ, nhưng :” Vì lời Thầy, con sẽ thả lưới”( Lc 5, 5 ). Simon hết đỗi ngạc nhiên và cả các bạn của ông cũng thế, họ dụi mắt, họ tưởng như giấc mơ, họ kinh ngạc đến sung sướng, một mẻ cá quá nhiều, quá bất ngờ, lưới của các ông hầu như muốn rách. Simon Phêrô bất ngờ đến phát sợ hãi, ông chỉ còn cách đến gần Chúa Giêsu phủ phục trước mặt Ngài mà nói :” Lạy Chúa, xin Chúa hãy tránh xa con vì con là kẻ tội lỗi”( Lc 5, 8 ). Phêrô tự nhiên cảm thấy mình quá bé nhỏ, quá tầm thường và quá bất xứng đối với Chúa Giêsu. Thái độ khiêm tốn của Ngài cũng na ná như Đức Mẹ khi đứng trước lời đề nghị của sứ thần Gabrien ngày truyền tin. Mẹ chỉ là nữ tỳ bé nhỏ, đơn hèn trước lời mời gọi lớn lao làm Mẹ Thiên Chúa. Simon cũng cảm thấy bất xứng như Phaolô trên đường đi Đamát và Ngài đã hỏi Chúa:” Lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì ?”. Vâng, ơn Chúa chỉ đổ xuống trên những ai có lòng khiêm nhượng, thật thà, đơn hèn.


SỰ BẤT LỰC CỦA CON NGƯỜI LÀM NỔI BẬT QUYỀN NĂNG CỦA THIÊN CHÚA:

“ Thưa Thầy, chúng con đã cực nhọc suốt đêm mà không bắt được con cá nào. Nhưng vâng lời Thầy, con sẽ thả lưới” ( Lc 5, 5). Lời nầy chứng tỏ sự bất lực của con người và là lời tin nhận quyền năng tối thượng của Thiên chúa Giavê. Từ đáy lòng, sự khiêm hạ của con người như lời nói xin vâng của Đức Mẹ Maria, phép lạ đã xẩy ra và phép lạ đem con người tới lòng tin sâu thẳm. Trước phép lạ lớn lao:” mẻ cá lạ lùng”. Simon xưng Chúa là Thầy và sau phép lạ tuyệt vời ấy, Simon lại tuyên xưng Chúa là Chúa. Chính qua phép lạ mẻ cá lạ lùng, Simon đã nhận ra quyền năng vô song, khôn lường của Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu và đã tuyệt đối tin tưởng vào Người. Mẻ cá diệu kỳ ấy đã giúp Simon nhận ra quyền năng cao vời và sự bất lực, yếu đuối của con người trước quyền năng vô biên của Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu. Đây cũng là kinh nghiệm của Môisen trước Thiên Chúa trong bụi gai, là kinh nghiệm của Isaia:” Khốn cho tôi, tôi chết mất…”. Nhưng khi được tình thương của Chúa thanh tẩy miệng lưỡi, ngôn sứ Isaia đã mau mắn vâng lời đi làm ngôn sứ cho Thiên Chúa. Giờ phút này, Chúa cũng trấn an Phêrô:” Đừng sợ, từ đây các con sẽ là những kẻ chài lưới người ta”( Lc 5, 10 ). Đức Giêsu Kitô hôm nay muốn trấn an, động viên, khuyến khích các môn đệ, đặc biệt ba vị tông đồ Phêrô, Giacôbê và Gioan, để tất cả tin vào sự yêu thương, lòng từ tâm và sự quan phòng của Thiên Chúa khi tiếp nhận và thi hành sứ mạng Ngài trao phó.


Chính lời trấn an, và trao ban sứ vụ, mà Phêrô và các bạn của Ngài đã bỏ tất cả mọi sự mà đi theo Chúa ( Lc 5, 11 ). Đó là ơn gọi của Phêrô và các bạn để các Ngài ra đi theo Chúa mà chinh phục người ta.


Phêrô và các bạn ngư phủ lành nghề trước khi gặp Chúa đã vất vả hết mình, suốt đêm nhưng khôngbắt được một con cá nào, nhưng khi gặp Chúa, Chúa đã chỉ, đã giúp, đã hướng dẫn các Ngài bắt được quá nhiều cá đến nỗi lưới gần rách và thuyền gần bị chìm. Nhưng tất cả những điều đó chỉ là phần thưởng trước mắt Chúa ban cho các Ngài mau qua, chóng tàn, điều quan trọng là từ nay các Ngài đã hòan toàn thuộc về Chúa và trở thành ngư phủ giỏi, lành nghề lưới người ta.


Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con luôn biết sẵn sàng từ bỏ mọi sự để đi theo Chúa và trở thành chứng nhân trung kiên cho Chúa. Amen.

 

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT

 

 

LỜI MỜI GỌI VÀ ĐÁP TRẢ

Sr Mai An Linh OP


Tư tưởng xuyên suốt của Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay là lời mời gọi và đáp trả. Thật vậy, ngay bài đọc I (Is.6,1-8), tiên tri Isaia đã thưa với Chúa “ dạ con đây xin sai con đi”, mặc dù ông cảm thấy mình tội lỗi nhưng khi được thiên thần thanh tẩy, ông đã mạnh dạn đáp lời. Cũng như Thánh Phaolô trong bài đọc II (1Cor.15,1-11). Ngài đã chân nhận mình không xứng đáng vì đã từng bách hại đạo Chúa, nhưng khi Chúa gọi, ông đã sẵn sàng thi hành dù phải chịu bao nhiêu gian nan khổ sở. Rõ ràng hơn trong Tin Mừng Lc.5,1-11. Chúa Giêsu gọi các môn đệ - Simon Phêrô và các bạn chài đang hành nghề ngư phủ, Chúa Giêsu đi qua và lên tiếng gọi, các ông đã mau mắn bỏ mọi sự để theo Ngài. Đây là một hồng ân đặc biệt nên trong bài đáp ca đã lên tiếng ca khen “ giữa chư vị thiên thần con đàn ca kính Chúa” (Tv.137).


Tất cả ba bài đọc đều xoay quanh chủ đề về lời mời gọi và đáp trả. Không phải các ông chọn Chúa mà chính Chúa gọi các ông như Thánh Marcô đã nói: “ Người chọn gọi kẻ Ngừơi muốn”(Mc.3,13), còn những kẻ Người không muốn thì có nài nỉ “ xin cho con theo Ngài” thì Chúa Giêsu cũng từ chối “ con hãy về và làm chứng cho mọi người biết Thiên chúa thương con như thế nào”. Mỗi người Chúa gọi một cách khác nhau. Người thì đang sống trong đền thờ như Isaia. Người thì đang trên đường lùng bắt các môn đệ của Đức Kitô, người thì đang chài lưới. Hoặc có thể từ một cuộc gặp gỡ đặc biệt như Nathanael, như Nicôđêmô, như Phanxicô Xaviê, như Augustinô….Những cuộc gặp gỡ ấy đã nẩy sinh những cảm nghiệm sâu sắc để đi vào tương quan mới mẻ khiến con người khám phá ra chân lý, nó thôi thúc con người làm một cuộc lựa chọn để chuyển hướng cuộc đời và đi theo Chúa.


Lý do chọn gọi môn đệ của Chúa Giêsu: Khi thấy dân chúng chen lấn đến sát bên Ngài để được nghe Lời Thiên Chúa thì Đức Giêsu mới lên thuyền ngồi giảng, nghĩa là thính giả quá đông, nhu cầu nghe Lời Chúa quá lớn. Chúa Giêsu thấy không thể một mình làm việc này được, cần phải có những người cộng tác. Đây chính là lý do Chúa Giêsu nảy sinh ý định cần phải có người nối tiếp nên phải huấn luyện họ thành những người loan báo Lời Thiên Chúa. Và để có thể thu phục được lòng người và để chuẩn bị cho việc chiêu đệ, Người đã sắp xếp cho mẻ cá lạ xẩy ra cốt ý để các ông nhận ra Ngài là ai mà theo.

Chỉ sau mẻ cá lời mời gọi của Chúa Giêsu mới được thực hiện, vì họ nhận ra Đức Giêsu là ai và phải hoạt động theo sự hướng dẫn của Đức Giêsu mới có kết quả. Lúc này Đức Giêsu mới ngỏ lời với họ và họ đã đáp trả một cách quảng đại…Qua mẻ cá Chúa Giêsu cũng muốn cho Phêrô cảm nghiệm rằng: đừng cậy dựa vào sức mình, cậy dựa vào kinh nghiệm của mình “ chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà chả được con cá nào”. Chúa cũng muốn cả nhóm môn đệ đầu tiên này cảm nghiệm điều ấy.


Chúng ta thấy những người được tuyển chọn đều cảm thấy mình bất xứng Isaia kêu lên “ tôi chết mất, vì tôi là một người môi miệng ô uế…” Phêrô thì sấp mình dưới dân Chúa “ xin Thầy xa con vì con là kẻ có tội” Phaolô tự nhận mình “ hèn mọn nhất trong số các tông đồ, vì đã ngược đãi Thiên Chúa”…Dù biết mình bất xứng nhưng Thiên Chúa vẫn tuyển chọn để cho mọi người nhận ra “tôi có làm được gì là do Thiên Chúa, Người ở cùng tôi ” và “hạ kẻ kiêu ngạo mà nâng người hèn mọn lên”. Kẻ nhận mình tội lỗi đã được Thiên Chúa trao sứ mạng làm tiên tri, người xin Thầy hãy xa mình ra thì được chọn làm cột trụ, làm thủ lãnh. Người nhận mình không xứng đáng làm tông đồ, thì được sai đi làm tông đồ lương dân “ chính lúc tôi yếu đuối, là lúc tôi mạnh” (2Cor.12,10) đã ứng nghiệm nơi các ngài. Việc nhận mình bất lực sẽ làm nổi quyền năng của Thiên Chúa.


Nhận biết thân phận mình, đó là điều tốt trong việc tiến đức, vì như thế sẽ không cậy dựa vào mình mà trông cậy Chúa và Chúa sẽ thêm sức. Khi nhận mình là không, Thiên Chúa sẽ đong đầy. Biết mình nghèo nàn Chúa sẽ làm giầu cho ta. Lúc ấy ta có thể hoàn thành được công việc của Ngài mà sức ta không làm nổi. Hãy xin Chúa lòng khiêm tốn để nhận ra những yếu đuối của mình. Xin Chúa giúp sức để mình vượt qua những yếu đuối mà thi hành ơn gọi được trao.

Lạy Chúa, xin cho chúng con ý thức lời mời gọi của Đức Kitô, để họ mau mắn cộng tác trong việc làm ngư phủ giữa biển trần gian qua cuộc sống lao động của họ, dù có phải gian nan chèo chống với phong ba, họ vẫn luôn tin tưởng có Chúa ở bên để tiến đến bến cứu độ.

Sr Mai An Linh OP

 

 

Bài1: MẺ CÁ LẠ

Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP.


(Lc 5,1-11)

Chúa Giêsu là một người đã sinh ra ở trần gian thì Chúa chỉ có thể sống ở trần gian một thời hạn nào đó, và chúng ta đã biết là 33 năm, rồi Chúa đã về trời. Nhưng đạo lý của Ngài, sự nghiệp của Ngài, cần phải được duy trì và loan truyền khắp nơi, nên Chúa phải nghĩ đến chuyện tuyển chọn những người cộng tác, để ở với Ngài, đi theo Ngài, tham dự vào sinh hoạt của Ngài, tiếp thu giáo huấn của Ngài và chứng kiến các việc Ngài làm…để sau này trở thành những người tiếp tục duy trì và truyền bá công cuộc cứu độ mà Ngài đã khởi đầu.


Chính vì thế khi bắt đầu công khai giảng dạy, chúng ta thấy việc trước hết Chúa làm là kêu gọi một số môn đệ. Những môn đệ đầu tiên đó là Phêrô, Anrê, Giacôbê và Gioan. Các ông này đã đi theo Chúa nhưng chưa một ai quyết định dứt khoát bỏ mọi sự đi theo luôn. Nên theo Chúa được một thời gian các ông lại trở về nghề nghiệp cũ là chài lưới đánh cá. Vậy là các ông chưa hiểu ơn gọi và sứ mạng cao cả Chúa muốn trao phó cho các ông.


Hôm nay, một lần nữa, Chúa lại kêu gọi các ông và nói cho các ông biết sứ mạng quan trọng Chúa muốn trao phó. Để các ông vững tin vào Chúa, Chúa đã cho các ông chứng kiến một phép lạ, và qua phép lạ này các ông sẽ hiểu sứ mạng của mình hơn. Phép lạ này xảy ra vào quãng đầu cuộc đời công khai giảng dạy của Chúa Giêsu, tức là khoảng đầu năm 28, xảy ra ở bờ hồ Ti-bê-ri-a, gần Bết-sai-đa, quê hương của bốn tông đồ đầu tiên. Đó là phép lạ Chúa Giêsu cho các môn đệ bắt được nhiều cá.


Hồ Ti-bê-ri-a còn được gọi là hồ Ghen-nê-xa-rét, có nhiều cá. Người ta thường đánh cá về đêm. Nhưng đêm ấy, các tông đồ đã thả lưới thâu đêm mà không bắt được gì cả. Nghề đánh cá có nhiều may rủi, cay cực. Nghề đánh cá phải chấp nhận sống giữa thiên nhiên với cuồng phong bão tố sóng cả. Phải chấp nhận sống bồng bềnh trên chiếc thuyền tròng trành tối ngày. Cuộc sống phải lấy đêm làm ngày là chuyện thường. Các môn đệ cũng thế, sau một đêm vất vả nhọc mệt mà chẳng được gì. Giờ đây các ông ngồi giặt lưới, rũ lưới, rồi đợi chờ chiều tối thuận tiện sẽ lại ra khơi.


Nhưng giữa lúc ấy Chúa bảo : “Hãy chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá”. Các ông vâng lời Chúa ngay và bắt được rất nhiều cá quá sức mong tưởng, là hai thuyền đầy đến nỗi gần chìm. Dù là các tay chài thiện nghệ đến đâu cũng phải kinh ngạc và công nhận đó là phép lạ. Một điều này thôi cũng đủ minh chứng Chúa Giêsu là Thiên Chúa, là Đấng quyền phép vô cùng. Trước phép lạ tỏ tường này, Chúa Giêsu bảo các môn đệ : “Từ nay các anh sẽ là người thu phục người ta”, nghĩa là những người có sứ mạng đi thu họp người ta để đưa vào Nước Thiên Chúa. thế là từ lần kêu gọi này các ông quyết định dứt khoát từ bỏ mọi sự đi theo Chúa để thực thi sứ mạng đó.


Bài Tin Mừng này rất phù hợp với khẩu hiệu của đại hội giới trẻ Công giáo toàn cầu tổ chức tại Ma-ni-la, Phi-líp-pin, từ ngày 10 đến 15 tháng một năm 1995. Khẩu hiệu duy nhất của đại hội do chính Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II chọn là “Như Cha đã sai Thầy đi thế nào, Thầy cũng sai chúng con đi như vậy”. Đức Giáo hoàng đã dùng lời Chúa Giêsu làm khẩu hiệu như một lời hô hào gửi đến giới trẻ Công giáo toàn cầu, và cũng cho tất cả mọi Kitô hữu nữa.


Đức Kitô được Chúa Cha sai đến trần gian để công bố và thiết lập Nước Trời. Đức Kitô đã hoàn thành sứ mạng đó. Và trước khi về trời Ngài lại trao sứ mạng đó cho các tông đồ : “Các con hãy đi khắp nơi giảng dạy cho muôn dân”. Các tông đồ đã đóng vai trò chài lưới người. Các ngài đã ra đi rao giảng và cũng đã chu toàn sứ mạng Chúa trao phó. Nối tiếp các tông đồ, hiểu theo sát nghĩa, đã có biết bao người hiến thân làm tông đồ, rao giảng Tin Mừng để phụng sự Chúa và phục vụ tha nhân. Nhưng hiểu một cách rộng rãi, tất cả chúng ta đều là tông đồ của Chúa. Điều này Công đồng Va-ti-ca-nô II đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần : mỗi Kitô hữu là một tông đồ của Chúa. Tất cả chúng ta đều được Chúa truyền phải làm mọi cách để chinh phục người ta về cho Chúa.


Người giáo dân thực thi mệnh lệnh này có hiệu quả hơn các linh mục, tu sĩ. Bởi vì các linh mục, tu sĩ đâu có đến các gia đình hay gặp gỡ được những người không có đạo, và họ cũng đâu có đến nhà thờ để nghe các linh mục giảng. Chính các giáo dân là những tông đồ cụ thể, trực tiếp và hữu hiệu nhất. Vậy anh chị em hãy suy nghĩ, hãy cố gắng hơn nữa, để đời sống của anh chị em, cách giao tiếp, gặp gỡ của anh chị em vừa làm chứng cho Chúa, cho đạo, vừa là động lực lôi kéo hay thúc đẩy người ta đến với Chúa.


Riêng các bạn trẻ, các bạn cũng hãy sẵn sàng muốn được sai đi xây dựng Nước Trời. Đối với phần đông giới trẻ Công giáo hiện nay, Nước Trời được nhìn như một cuộc sống hạnh phúc phần xác và phần hồn. Muốn dấu chỉ của Nước Trời được nhìn thấy trong cuộc sống, các bạn trẻ hãy cố gắng làm sao để cái tốt, cái đẹp của Nước Trời được thể hiện ngay trong đời sống cá nhân và gia đình các bạn. Nếu mỗi người chúng ta cố gắng sống được như thế thì Nước Trời đang ở giữa chúng ta.


Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP.

 

Bài 2: Tin tưỞng vào Chúa

(Lc 5,1-11)

Giacôbê Phạm Văn Phượng op


Sau khi giảng dạy và làm nhiều phép lạ ở thành Ca-phác na-um, Chúa Giê-su ra khỏi thành và đi về mạn biển Ga-li-lê, tức là hồ Ghen-nê-xa-rét, dân chúng theo Ngài rất đông. Tới bờ biển, Ngài xuống thuyền của Phê-rô, đứng trên thuyền quay vào giảng dạy dân chúng. Tin Mừng không cho biết hôm ấy Chúa giảng gì, nhưng kể tiếp ngay câu chuyện Chúa cho Phê-rô và các tông đồ bắt được một mẻ cá lớn. Trước mẻ cá lạ lùng này, ông Phê-rô sấp mình trước Chúa xin Chúa tránh xa ông vì ông là người tội lỗi. Chúng ta hãy tìm hiểu và ghi nhận bài học hữu ích cho chúng ta.


Chúng ta nên biết : trước đó ông Phê-rô và các bạn đã đánh cá suốt đêm mà không bắt được gì. Sáng sớm, kéo lưới vào bờ, gặp Chúa, Chúa bảo thả lưới, các ông vâng lời thả lưới. Như vậy, các ông thả lưới là vì nghe lời Chúa thôi, chứ theo kinh nghiệm nghề nghiệp thì các ông chỉ còn việc giặt lưới rồi về nhà ngủ một giấc cho khỏe bù lại suốt một đêm vất vả. Thực vậy, Phê-rô và các tông đổ đầu tiên là những tay đánh cá nhà nghề, chuyên nghiệp, các ông dư đoán được chỗ nào có cá và lúc nào có nhiều cá. Thế mà bây giờ Chúa lại chỉ chỗ cho các ông thả lưới, không những ở gần bờ, lại vào giữa ban ngày, ít hy vọng có cá hơn ban đêm. Dầu có hơi thắc mắc, nhưng các ông vâng lời ngay, sự vâng lời của các ông đã đem lại một phần thưởng lớn là một phép lạ đầy hai thuyền cá, các ông hết sức kinh ngạc.


Như vậy, kết quả của mẻ lưới này không phải do kinh nghiệm nghề nghiệp của các tông đồ mà là do quyền phép của Chúa Giê-su, Ngài có quyền để cho mẻ cá này có ý nghĩa riêng của nó. Thực vậy, Chúa dùng mẻ cá này như là hình ảnh của công việc sắp tới mà Ngài trao phó cho các ông: từ nay các ông không thả lưới đánh cá nữa mà thả lưới đánh người, nghĩa là từ nay các ông sẽ là tông đồ của Chúa để đi chinh phục mọi người đưa vào Giáo hội Chúa. Như thế mẻ cá này có ý chỉ công cuộc truyền giáo, công cuộc tông đồ của Giáo hội. Rồi đây Phê-rô và các bạn chài lưới của ông cũng như những người kế tiếp các ông sẽ rảo khắp mặt biển thế gian, để kéo người ta ra khỏi vực thẳm tối tăm, đem ra ánh sáng, đưa vào Giáo hội, và dẫn đến thiên quốc. Thánh Gio-an Kim Khẩu, khi giải thích mẻ cá lạ lùng này đã nói : đó là phương pháp đánh cá tân kỳ, vì người đánh cá kéo cá ra khỏi nước để giết chúng, còn chúng ta thì thả lưới để cứu sống những kẻ chúng ta bắt được”.

Ngoài bài học truyền giáo, chúng ta còn ghi nhận được một bài học nữa, cũng rất có ý nghĩa và giá trị đối với chúng ta. Thực vậy, trước mẻ cá đầy ắp thuyền, với con mắt chuyên nghiệp, đúng ra Phê-rô phải vui sướng reo hò, thì ông lại quì sụp xuống dưới chân Chúa Giê-su và xin Ngài tránh xa, vì ông là kẻ tội lỗi. Cá và tội lỗi có ăn nhằm gì hay liên hệ gì với nhau ? Nhưng chắc chắn không phải vô lý mà Phê-rô run rẩy sợ hãi, chúng ta có thể tìm ra một số lý do của sự sợ hãi này : trước hết, có lẽ vì Phê-rô đã nghĩ đến con người tội lỗi đang còn thiếu tin và đầy ngờ vực của mình, chính ra vừa khi gặp được Chúa ông phải xin ngay Ngài giúp đỡ. Hơn nữa, cả khi vắng mặt Chúa, đức tin cũng đòi phải hướng lòng về Ngài, nhất là khi thất bại, Phê-rô đã không làm cả hai việc đó. Đàng khác, Phê-rô hiện đang đối diện với Đấng toàn năng toàn hảo, chế ngự được cả định luật thiên nhiên, mọi loài mọi vật trên trời dưới đất đều phải tuân phục. Sự kiện mẻ cá lạ lùng vừa mới xảy ra là một bằng chứng làm cho ông hết sức kinh ngạc : cả đêm, một thời gian dài vất vả mà không bắt được con cá nào so với trong phút chốc số cá bắt được hai thuyền chở không hết, Phê-rô sợ hãi là tất nhiên thôi.


Tuy nhiên, các môn đệ thả lưới suốt đêm không được con cá nào là vì không có Chúa ở trong thuyền, nhưng khi có Chúa cùng đi thì họ được đầy hai thuyền cá. Đây là một bài học thiết thực cho cuộc đời chúng ta, có thể cuộc đời chúng ta gặp cảnh huống éo le, phức tạp, cuống cuồng không biết cậy nhờ vào ai hay cậy dựa vào đâu, rồi hữu sự vái tứ phương. Hình ảnh ban đêm của các tông đồ là hình ảnh đời con người trong những lúc hết hy vọng, những lúc cực nhọc, vất vả, mệt mỏi, rã cánh mà không kiếm đủ nuôi thân và gia đình. Giữa những lúc ấy chúng ta càng cần phải có Chúa : “Không có Ta, các con không làm gì được”, thánh Phao-lô thì nói : “Với Chúa, tôi có thể làm được tất cả”.


Chúng ta hãy lắng nghe lời Chúa hôm nay : “Hãy cứ thả lưới”, nghĩa là hãy kiên nhẫn, hãy trung thành, hãy vâng lời mà làm việc thì kết quả sẽ đến, một khi Chúa ban, kết quả sẽ quá sức chúng ta mong tưởng. Chúng ta thấy đó, giữa lúc các tông đồ mệt mỏi nhất, thất vọng nhất, thì Thiên Chúa đã can thiệp đúng lúc, ban cho các ông một mẻ cá lạ lùng. Chúng ta cũng vậy, hãy kiên nhẫn cầu xin, hãy vâng lời chu toàn bổn phận mình, Chúa sẽ ban cho chúng ta không những như chúng ta cầu xin mà còn hơn cả chúng ta cầu xin nữa.


Qua mẻ cá lạ lùng này, Chúa muốn dạy cho các tông đồ và mọi người biết : việc đánh cá suốt đêm mà không được gì, đó là sự giới hạn của con người : “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”, nếu con người cứ thành công mãi như ý mình, người ta sẽ tưởng mình là vô địch, mình có thể làm được mọi sự mà không cần đến Chúa. Nhưng rất may, ở trần gian này có một định luật là sự giới hạn : giới hạn của vật chất chung quanh chúng ta, giới hạn của khả năng con người, giới hạn của chính đời sống chúng ta, không ai có thể sống vượt ra ngoài những giới hạn đó. Cho nên, chúng ta tin Chúa là chúng ta nhận biết thế đứng của mình trước Thiên Chúa, biết sự giới hạn của mình trước Đấng toàn năng đã phán : “Không có Ta, các ngươi không làm gì được”. Vậy hôm nay và luôn mãi trong suốt cuộc sống, chúng ta hãy xin Chúa thực thi chương trình của Ngài nơi mỗi người chúng ta, và xin Chúa cho chúng ta biết thân phận mình, biết sự giới hạn của mình, để chúng ta luôn tin tưởng và cậy trông vào Chúa.

 

Giacôbê Phạm Văn Phượng op

 

Thu phỤc nhân tâm

Lm. Nguyễn ngọc Long


Ngư phủ là người làm nghề chài lưới bắt cá trên giòng sông nước ngoài biển cả hầu như khắp nơi vào moị thời đại. Ông đi bắt cá không phải để giải trí nhưng là nghề nghiệp kiếm miếng cơm manh áo cho chính mình và gia đình.


Chúa Giêsu không là ngư phủ nhưng ngài bước xuống thuyền của các ngư phủ bên hồ và giảng thuyết về tin mừng nước Thiên Chúa. Hai việc đánh cá và rao giảng tin mừng nước trời nào có ăn nhập gì với nhau đâu, mà tại sao Chúa Giêsu lại làm như kiểu ta thường nói: Kéo giỗ làm chạp!


Tôi không tin là Chúa Giêsu làm việc này cách nhì nhằng như thế. Trên đường rao giảng tin mừng nước Thiên Chúa, ngài muốn gần gũi với hết mọi người, không phân biệt thứ bậc giai cấp nghề nghiệp, lớn bé, già trẻ...vì thế ngài dùng cơ hội này nói chuyện với dân chúng.


Chưa hết, sau khi giảng thuyết ngài cùng ra khơi thả lưới đánh cá với các ngư phủ. Sau cùng lại còn kêu gọi phong cho các ngư phủ: Simon Phêrô, Giacôbe và Gioan nhiệm vụ đi cứu sống ( thả lưới đánh cá) người ta! Hai nghề nghiệp xem ra cũng chẳng có gì ăn khớp với nhau.


Con người như tôi, như bạn nào có phải cá tôm, sò ốc cua hến đâu mà đánh bắt được ? Tại sao Chúa Giêsu lại trao cho các ông nhiệm vụ từ việc chài lưới đánh cá sang việc chài lưới cứu sống người ta? Thử hỏi có ai chịu để người khác đánh bắt mình như cá tôm không ?


Bị chài mồi, bị thuyết phục xem ra là điều không tốt đẹp gì. Nhưng có những trường hợp lại là điều tốt đẹp mang lại niềm vui phấn khởi, như khi ta yêu thích mộ mến ai đó như hâm mộ Đức Giáo Hoàng Phaolô hay một thần tượng trong làng đá bóng, quần vợt, ca nhạc, văn sỹ, hội hoạ. ..Vào trường hợp như thế ta bị thuyết phục, hớp hồn và hầu như luôn nghĩ tới thần tượng đó, muốn có dịp được mắt thấy tai nghe, gần gũi sờ mó nói chuyện với thần tượng của lòng mình!


Trong đời sống ai cũng có kinh nghiệm về mối tương giao chung sống với người khác nhất là với bạn bè. Những người qua lời nói hay việc làm của họ gây tin tưởng niềm vui hứng khởi lôi kéo được tôi hay bạn, họ là người đã chinh phục được chúng ta. Sự chinh phục lôi kéo gây niềm vui phấn khởi cho đời sống theo điều ngay chính là chuyện tốt đẹp hữu ích. Thầy cô giáo hay huấn luyện viên mà không thu phục được nhân tâm của học trò, không gây được niềm vui hào hứng cho họ, thì làm sao có thể giúp họ tiến được ?


Chúa Giêsu kêu gọi và sai các ông ngư phủ đi - chài lưới - cứu sống người, không phải dựa trên căn bản giăng lưới bẫy bắt cá chim bay lượn trên trời trong lòng sông nước rồi cho nhốt vào một ao hồ hay chậu lồng, để đem đi bán hay làm thức ăn... nhưng trao cho các ông nhiệm vụ đi thu phục nhân tâm cho nước Thiên Chúa như ngài đang làm.


Nước Thiên Chúa bao gồm tất cả những tạo vật trong công trình do Thiên Chúa tạo dựng. Nước Thiên Chúa là nước của niềm vui, nước của lòng tha thứ làm hoà "chín bỏ làm mười", nước của lòng nhân ái, kính trọng nhân phẩm con người, nước của sự thật. Trong nước Thiên Chúa mọi người là anh em con một Cha trên trời "tứ hải giai huynh đệ".

Chúa Giêsu đã thu phục các Tông đồ đầu tiên Phêrô, Giacôbê, Gioan theo ngài. Các ông cũng có nhiệm vụ làm sao thu phục lòng con người, gây nơi họ lòng tin tưởng phấn khởi theo Chúa.


Nhiệm vụ thu phục nhân tâm cho nước Thiên Chúa không chỉ giới hạn vào các Thánh Tông đồ tiên khởi này, nhưng là nhiệm vụ của tất cả mọi người qua bí tích Thánh tẩy đã gia nhập tin theo mộ mến nước Thiên Chúa.


Niềm vui của người đi thu phục nhân tâm cho tin mừng nước Thiên Chúa không dựa vào thành công vào con số những người hâm mộ tin theo Chúa, vì sự thành công xem thấy đếm được ngày càng xem ra khiêm nhượng ít đi, nhất là trong xã hội tự do và khoa học phát triển ngày hôm nay. Nhưng họ có niềm vui, vì lời Chúa là niềm vui, là thần tượng cho tâm hồn họ và họ mang niềm vui đó đến cho người khác như nhân chứng của niềm vui nước Thiên Chúa.

Lm. Nguyễn ngọc Long

 

 

TỰ DO NHƯ MỘT ĐỊNH MỆNH.

Như Hạ OP


Thường ai cũng thấy tựa đề trên hàm chứa một mâu thuẫn tự bản chât. Tự do và định mênh không thể nào dung hợp. Nhưng tại sao nhìn tự do như một định mệnh ?


Có nhiều mâu thuẫn vẫn tồn tại bên nhau như bóng với hình. Tự do tuyệt đôi không thể tìm được trong hoàn cảnh hiện tại. Nhưng con người vẫn luôn cảm thấy mình có tự do và vẫn mơ về tự do tuyệt đối đó. Nếu không có tự do, con người không còn trách nhiệm. Luân lý cũng biến mất. Tự do thực là một cám dỗ nguy hiểm, nhưng cũng là một cơ hội lớn để con người xác định căn tính và đánh dấu mức trưởng thành nhân cách. Đúng là một trò chơi đòi hỏi nhiều thông minh và can đảm.


TRÒ CHƠI HAY TRỜI CHO

Chúng ta không được hỏi ý kiến trước khi sinh ra. Do đó sự hiện hữu của mình mới đây những giới hạn. Tự do gần như một mộng tưởng. Sinh ra đời cũng như nhảy vào một cuộc chơi, giữa bao lựa chọn. Cuộc đời như một trò chơi. Tất cả các bàn cờ đã bày sẵn. Dĩ nhiên cuộc chơi rất nhiều và phức tạp. Nhiều người tưởng mình có thể đứng ngoài cuộc. Nhưng ngay cả nhũng người sống cô đơn nhất, cũng đang chơi một trò chơi lớn bằng cả cuộc đời mình. Người ta có quyền lựa chọn và phải chịu trách nhiệm về lựa chọn đó. Lựa chọn nào cũng phải trả giá.


Hãy xem người con thứ trong Tin Mững Luca 15:11-32 đã trả giá thế nào. Sống với cha mãi, anh cũng chán ngán với những tập tục năng nề. Anh không thể sống thoải mái theo ước vọng tuổi trẻ. Anh mơ một khung trời tự do. Anh sẽ vùng vẫy thỏa tình. Không bị lệ thuộc bất cứ khuôn sáo nào. Hoàn toàn sống theo sở thích.


Nhưng thử hỏi lúc đó anh có hoàn toàn tự do không ? Dĩ nhiên tiền bạc đã đem lại cho anh những trận cười thâu đêm suốt sáng. Anh tung mình vào cuộc chơi với những hạng người nào ? Những tương quan ngang dọc trong cuộc chơi đó chẳng lẽ không chi phối con người anh sao ? Nếu nhà cha anh là một sân chơi, thì nơi đàng điếm cũng là một sân chơi. Khác nhau ở chỗ, sân nào giúp anh phát triển tinh thần và thể xác, sân nào tạo ra những tai nạn nguy hiểm, đưa anh tới một định mệnh tàn khốc.


Sân chơi nào cũng cần luật lệ. Luật lệ cũng chỉ là một phương tiện đạt tới mục đích. Điều quan trọng là nhận định cho đúng bản chất, tác dụng và hiệu lực của luật lệ thôi. Không phải luật lệ nào cũng giết chết tự do. Chẳng hạn người nhạc sĩ sáng tác giữa một rừng luật. Luật âm nhạc không trói chặt tâm hồn nghệ sĩ của anh. Trái lại càng giúp anh khám phá muôn vàn kỳ diệu trong thế giới âm thanh.


Cuộc đời có nhiều sân chơi khác nhau. Mỗi sân chơi có luật riêng. Thử tưởng tượng không luật lệ, sân chơi sẽ hỗn loạn và nhàm chán chừng nào. Anh đã lựa chọn một sân chơi thoát ngoài vòng kiêm tỏa của thân phụ. Anh muốn sống hoàn toàn đoạn tuyệt với quá khứ. Anh không cần đến tình thương của ông nữa. Anh tin tưởng tuyệt đối vào sức mạnh đồng tiền. Đồng tiền có thễ thay thế hay đúng hơn tạo nên tình yêu. Nói khác, anh mơ tưởng đến một thiên đàng hạ giới.


Nhưng thực tế phũ phàng. Cuộc đời không buông tha anh. Trong cơn đói khát, anh thấy mình bị tước đoạt tất cả. Anh không còn phải là anh giữa bao cơn gào thét của bản năng căn bản nhất. Phẩm giá anh xuống thấp nhất, ngang với loài heo. Anh đang trả giá cho lựa chọn của anh. Hạnh phúc ngày xưa trở thành một giấc mơ hầu như không thể thực hiện. Anh mơ về thời vàng son khi còn sống êm ấm dưới mái gia đình. Nhớ ngày xưa còn bé thênh thang những bước chân chim. Lớn lên anh vui chơi với bạn bè. Bao nhiêu dự phóng tuổi trẻ đã được thực hiện. Anh không thiếu một trợ lực tinh thần và vật chất nào. Cha luôn ở bên cạnh. Anh vẫn có tự do mà anh không biết. Tự do không phải là một thứ cây mọc ở trên mây.


Bước chân phiêu bạt chỉ dừng lại khi giấc mơ tuổi trẻ trở thành thực tế phũ phàng. Anh mất tất cả những trợ lực cần thiết cho cuộc sống. Anh muốn và thực sự quay đầu trở về nhà cha. Bây giờ anh chẳng dám mơ một thứ tự do lãng mạn nữa. Địa vị làm con cao sang quá, anh không dám mơ tới. Cao lắm anh chỉ mong đóng vai gia nhân, vì làm gia nhân anh không lo chết đói.

Nhưng thực tế khác xa với mộng tưởng. Nếu thực tế chua chát của cuộc đời đã dạy anh những bài học đích đáng, thì thực tế của tình cha bao dung đã kéo anh về với bầu khí tự do của gia đình. Tình yêu không phải là một trò chơi, nhưng là một của Trời cho con người. Tự do không thể kiếm thấy ngoài tình yêu. Lý do không tình yêu, mọi sự xáo trộn. Hoàn cảnh ngặt nghèo khiến anh không thực hiện nổi giấc mơ nhỏ bé tầm thường nhất. Vì anh không thể kiếm thấy tình yêu nơi môi trường đàng điếm, một nơi chỉ sống dựa trên tiền bạc, thủ đoạn.


Bởi thế như mọi thực tại trần gian khác, tự do cũng có giới hạn. Đúng hơn, cũng như tình yêu, tự do phải được thực hiện trong một hoàn cảnh nhất định. Không thể có thứ tự do vô điều kiện. Không hội đủ điều kiện, không thể hưởng được không khí tự do. Tự do không thể có một chiều kích khác biệt với những thực tại chung quanh. Thực tế tự do cũng chỉ là một đặc tính của con người. Tự do không thể có chiều kích tuyệt đối trong một cõi tương đối như trần gian. Mặt trái của tự do là trách nhiệm. Nếu tự do có nghĩa muốn làm gì thì làm, chúng ta sẽ lâm vào ngõ bí của một định mệnh khắc nghiệt, không lối thoát. Chỉ có một lối thoát duy nhất, đó là Đức Giêsu Kitô. Thật vậy, Thánh Phaolô quả quyết : "Chính vì để chúng ta được tự do mà Chúa Kitô đã chết vì chúng ta" (Gl 5:1).


LỐI THOÁT KHỎI ĐỊNH MỆNH

Con người dù mạnh tới đâu cũng phải dừng lại trước sức mạnh tử thần, vì họ chỉ "giết được thân xác mà không giết được linh hồn" (Mt 10:28). Ngày xưa vua Gia Long tưởng quyền hành bao trùm cả cõi âm ty, nên dã lấy sọ Quang Trung bỏ vào nhà vệ sinh. Lối trả thù ti tiện đó càng làm mọi người phỉ nhổ, chứ không chứng tỏ chút uy quyền nào. Càng tìm cách biểu dương quyền lực, nhà vua càng trở thành bất lực. Thiên Chúa rất khác. Để trả oán cho những người đã không sống đúng với sứ mạng và ơn gọi của mình, Người "có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục" (Mt 10:28). Thật vô cùng khủng khiếp, quyền uy Thiên Chúa bao trùm cả đời này lẫn đời sau.


Quyền sinh tử nằm trong tay Thượng đế. Thực tế ít ai ý thức được quyền bính vô cùng lớn lao đó. Thiên Chúa ẩn mình và vô cùng kiên nhẫn. Thiên Chúa quan phòng tất cả vạn vật trong thượng trí và tình thương. Chỉ khi nào gặp biến cố phi thường, con người mới biết run sợ trước Đấng Hóa Công. Người ít khi dùng quyền để đe dọa con người. Trái lại, thực tế Người dùng quyền bính để bảo vệ, xây dựng và cứu giúp hơn là phá đổ.


Thiên Chúa quan tâm đến con người vì con người là một giá trị siêu việt, một kiệt tác do thượng trí và tình yêu Người dựng nên. Chính vì yêu thương, Thiên Chúa đã mạc khải tất cả cho con người nơi Người Con Chí Ai. Lời Mạc khải đó chính là Đức Giêsu Kitô, Đấng đã đến kêu gọi con người hợp tác trong việc loan báo Tin Mừng cứu độ cho muôn dân.


Lời mời gọi đó hoàn toàn tự do. Khi chấp nhận lời mời gọi ấy, con người sẽ nghiệm thấy Thiên Chúa thực sự dễ thương. Người là Cha nhân ái, luôn chăm sóc đến từng người. Chúa Giêsu nói rõ : "Hai con chim sẻ chỉ bán được một xu phải không ? Thế mà không một con nào rơi xuống đất ngoài ý của Cha anh em. . . Vậy anh em đừng sợ, anh em còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ." (Mt 10:29-31) Nếu đối với mọi người, Chúa còn chăm lo đến thế, thì đối với ai được Chúa sai đi làm chứng và rao giảng Tin Mừng, Người sẽ đối xử thế nào ? Họ đã dám công bố lời Chúa bất chấp mọi gươm giáo, đã lấy thân cản lối bạo lực để ánh sáng Tin Mững chiếu soi khắp cõi, thì Đức Kitô cũng sẽ đem thân che chở họ trước vẻ uy nghiêm vô cùng của Thiên Chúa trong ngày phán xét.


Nói khác, họ đã tìm được một lối thoát khỏi định mệnh khắc nghiệt, vì Đức Kitô đã hứa : "Phàm ai tuyên bố nhận Thày trước mặt thiên hạ, thì Thày cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thày, Đấng ngự trên trời" (Mt 10:32). Được Đức Kitô bao che trước nhan Chúa Cha, tức được một bảo đảm, một chỗ dựa vững chắc nhất. Dù quá khứ có nặng nề tới mấy, nghe lời bảo đảm ấy, tự nhiên ta thấy an tâm. Dù Cha có là Đấng Chí Công, chúng ta cũng không lo sợ. Dưới ánh mắt Người,không có gì đẹp bằng dung nhan Con Chí Ai. Nhìn thấy Người Con duy nhất đó, Chúa Cha sẽ quên hết mọi ưu phiền do tội lỗi loài người gây nên.


Có người cha nào dễ thương hơn Thiên Chúa ? Người chăm lo đến mỗi người chúng ta, đến nỗi "ngay sợi tóc trên đầu anh em, Người cũng đếm cả rồi" (Mt 10:30). Người vạch ra cho ta một lối thoát khỏi định mệnh. Đúng là dáng điệu của một người cha. Chúa khuyến khich chúng ta can đảm ngẩng đầu lên, cương quyết không chịu khuất phục trước cường quyền. Bạo lực ép buộc con người làm những chuyện tồi bại, hèn nhát, phản lương tâm, luân lý. Thực tế họ chỉ giết được thân xác, hoàn toàn bó tay trước sức mạnh tinh thần. Nhưng con người đâu phải chỉ là thân xác. Bạo lực không thể khống chế sức mạnh tinh thần.


Cha chúng ta chỉ cho chúng ta một lối thoát. Lối thoát đó chính là can trường rao giảng Tin Mừng và làm chứng cho Chúa trong cuộc sống hằng ngày. Khi thoát khỏi nanh vuốt tử thần, vào sống trong nhà Chúa, chúng ta sẽ được thừa hưởng tất cả bầu khí tự do và hân hoan của con cái Chúa, vì "Nước Chúa là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần" (Rm 14:17). Đấng sẽ mạc khải tất cả sự thật (xc Ga 16:13) và"sự thật sẽ giải thoát anh em" (Ga 8:32).


Bởi đó tự do là một hồng ân. Nếu hiểu định mệnh là chương trình Thiên Chuá quan phòng mọi việc trong vũ trụ, thì tự do cũng không thể nằm ngoài định mệnh đó. Trong chương trình đó, Thiên Chúa đã muốn bản chất con người là tự do. Không một giá trị nhân bản đích thực nào có thể được tạo lập trong một môi trường mất tự do. Nhưng tự do chỉ có thể đem lại hạnh phúc thực sự khi được xây dựng trên nền tảng chân lý. Đó là định luật thiên nhiên. Chống lại định luật thiên nhiên là đi ngược với thánh ý Thiên Chúa. Hi vọng những người chủ trương tôn sùng tự do lương tâm tuyệt đối khám phá được nét hòa hợp tuyệt vời giữa tự do và chân lý để bảo đảm cho hạnh phúc hiện tại và cuối cùng của nhân loại.

Như Hạ OP

 

 

Khiêm nhưỢng phỤc vỤ tha nhân

John Nguyễn

 

ĐỌC LỜI CHÚA:

( Is 6,1-2a.3-8: Tôi thấy Chúa Thượng ngự trên ngai rất cao; tà áo của Người bao phủ đền thờ. Phía bên trên Người, có các thần Xêra-phim đứng chầu. Các vị ấy đối đáp tung hô: «Thánh! Thánh! Chí Thánh! Đức Chúa các đạo binh là Đấng Thánh! Cả mặt đất rạng ngời vinh quang Chúa!». Bấy giờ tôi thốt lên: «Khốn thân tôi, tôi chết mất! Vì tôi là một người môi miệng ô uế, thế mà mắt tôi đã thấy Đức Vua là Đức Chúa các đạo binh». Tôi nghe thấy tiếng Chúa thượng phán: «Ta sẽ sai ai đây? Ai sẽ đi cho chúng ta?» Tôi thưa: «Dạ con đây, xin sai con đi!»


( 1 Cr 15,1-11: Tôi là người hèn mọn nhất trong số các tông đồ, ta không đáng được gọi là tông đồ, vì đã ngược đãi Hội Thánh của Thiên Chúa. Nhưng tôi có là gì thì cũng là nhờ ơn Thiên Chúa, và ơn Người ban cho tôi đã không vô hiệu; trái lại, tôi đã làm việc nhiều hơn tất cả những vị khác, nhưng không phải tôi, mà là ơn Thiên Chúa cùng với tôi.



 

( TIN MỪNG : Lc 5,1-11

Đức Giêsu kêu gọi bốn môn đệ đầu tiên

Một hôm, Đức Giêsu đang đứng ở bờ hồ Gê-nê-sa-rét, dân chúng chen lấn nhau đến gần Người để nghe lời Thiên Chúa. Người thấy hai chiếc thuyền đậu dọc bờ hồ, còn những người đánh cá thì đã ra khỏi thuyền và đang giặt lưới. Đức Giêsu xuống một chiếc thuyền, thuyền đó của ông Si-mon, và Người xin ông chèo thuyền ra xa bờ một chút. Rồi Người ngồi xuống, và từ trên thuyền Người giảng dạy đám đông.


Giảng xong, Người bảo ông Si-mon: «Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá». Ông Si-mon đáp: «Thưa Thầy, chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả. Nhưng vâng lời Thầy, tôi sẽ thả lưới». Họ đã làm như vậy, và bắt được rất nhiều cá, đến nỗi hầu như rách cả lưới. Họ làm hiệu cho các bạn chài trên các thuyền kia đến giúp. Những người này tới và họ đã đổ lên được hai thuyền đầy cá, đến gần chìm.


Thấy vậy, ông Si-mon Phê-rô sấp mặt dưới chân Đức Giêsu và nói: «Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!» Quả vậy, thấy mẻ cá vừa bắt được, ông Si-mon và tất cả những người có mặt ở đó với ông đều kinh ngạc. Cả hai người con ông Giê-bê-đê là Gia-cô-bê và Gio-an, bạn chài với ông Si-mon, cũng kinh ngạc như vậy. Bấy giờ Đức Giêsu bảo ông Si-mon: «Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta». Thế là họ đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Người.


SUY NIỆM:

Câu hỏi gợi ý:

1.                 Chúa có chủ trương chọn những người tài giỏi hơn người, đạo đức hơn người để kêu gọi họ làm việc cho Ngài không? Tại sao?

2.                 Khi làm công cho ai, bạn phải làm những công việc người ấy giao như thế nào? Bạn làm theo ý bạn hay theo ý người ấy? Việc ấy là việc của người ấy hay là của bạn? Ai là người chủ chốt lo cho công việc ấy nhất? Người ấy hay là bạn?

3.                 Bí quyết để thành công khi làm công việc của Chúa là gì? Bạn nên dành phần cho Ngài và chờ đợi Ngài hành động, hay bạn làm tất cả?


Suy tư gợi ý:

 

1. Thiên Chúa thường kêu gọi những kẻ tự thấy mình hèn mọn
Trong ba bài đọc, ta thấy có 6 người được Thiên Chúa kêu gọi: I-sai-a (bài đọc 1), Phao-lô (bài đọc 2), và 4 tông đồ Si-mon, An-rê, Gio-an và Gia-cô-bê (bài Tin Mừng). Đặc điểm chung của 4 người này là người nào cũng tự thấy mình nhỏ bé, yếu đuối, hèn mọn. I-sai-a thì thấy mình là người môi miệng ô uế, Phao-lô thì thấy mình hèn mọn nhất trong các tông đồ. Còn Simon, điển hình cho 4 tông đồ trong bài Tin Mừng thì tuy đã đánh cá suốt đêm không thành công, thế mà vẫn sẵn sàng nghe lời Đức Giêsu, người mà ông mới chỉ biết là một «thầy giảng đạo», chẳng phải là người chuyên môn trong nghề đánh cá. Nếu không khiêm nhường, thì ông sẽ phản ứng: «Tôi chuyên nghiệp đánh cá mà đánh suốt đêm còn chẳng được con nào, Thầy biết gì mà đòi chỉ cho tôi!».


Thiên Chúa thích kêu gọi những người tự thấy mình hèn mọn yếu đuối, để họ trở thành một công cụ tốt, ngoan ngùy dưới tay của Ngài. Và chính khi sử dụng những người như thế, Ngài mới có thể biểu lộ quyền năng và sức mạnh của Ngài. Nếu sử dụng những người tài giỏi, mọi người sẽ nghĩ rằng sự thành công đó là do tài trí và sức mạnh của con người chứ không phải do quyền năng của Ngài. Chính người được Ngài dùng cũng có thể tự hào như vậy.



2. Công việc của Chúa, hãy để phần nào cho Ngài tự lo liệu

Khi Ngài kêu gọi ai làm công việc của Ngài, thì Ngài vẫn muốn Ngài là chủ công việc, và Ngài mong muốn người cộng tác với Ngài chỉ hành xử như một công cụ trong tay Ngài. Ngài không muốn người ấy tự coi mình như chủ nhân trong công việc của Ngài. Ngài muốn công việc của Ngài phải được tiến hành theo đường lối và phương cách của Ngài, vốn rất khác với đường lối và phương cách của con người.


Rất nhiều người làm công việc của Chúa, nhưng lại đưa cái tôi của mình vào đó nhiều quá. Họ muốn công việc của Chúa phải được thực hiện theo cách thức của họ, theo chiều hướng của họ, thậm chí họ muốn biến công việc của Chúa thành công việc của chính họ, do họ làm chủ. Họ muốn rằng sau khi hoàn thành, mọi người nhìn đều vào đó mà nể phục họ, tôn vinh họ. Vì thế, trong công việc ấy, Chúa chỉ đóng một vai trò phụ thuộc, còn họ mới đóng vai trò quan trọng và chính yếu. Do đó, làm công việc của Chúa mà họ phải lo lắng và sợ sệt đủ điều, nào là lo sợ bị thất bại, sợ nguy hiểm, sợ mình không trung thành, sợ vượt quá sức mình, v.v… Họ sợ đủ thứ! Vì họ đã coi việc ấy như hoàn toàn của mình. Họ làm như Chúa hoàn toàn đứng ở bên ngoài công việc ấy, và vô trách nhiệm đối với công việc của Ngài.


Những người như vậy, thực ra không phải là sốt sắng nhiệt thành với việc của Chúa, cho bằng một mặt là muốn quan trọng hóa mình, muốn thay thế Chúa, dành phần của Ngài trong công việc, để tìm vinh danh cho mình, mặt khác là không tin tưởng và cậy trông vào tình thương, sức mạnh và quyền năng của Chúa. Họ quên rằng họ đang làm công việc của Chúa chứ không phải của mình, nên họ chiếm hết phận vụ và trách nhiệm của Chúa trong đó.


Bài Tin Mừng cho ta thấy: nhiều khi con người đã nỗ lực hết sức mà vẫn vô ích: Si-mon vất vả đánh cá suốt đêm mà chẳng được gì. Nhưng khi để Chúa hướng dẫn, làm chủ công việc, thì sự thành công trở thành hết sức lớn lao: Si-mon làm theo đề nghị của Chúa, mặc dù nếu xét theo kinh nghiệm tự nhiên của ông thì có làm như thế cũng vô ích. Nhưng ông đã làm theo và đã được một mẻ cá hết sức lớn.


Công việc tông đồ, việc mục vụ, giáo dục, đào tạo, bác ái, mưu ích lợi cho tha nhân, cũng như những công việc của chính mình, bằng cách này hay cách khác, đều tương tự như việc đánh cá của Si-mon. Nếu ta đừng xen quá nhiều ý riêng của mình vào, mà hãy để Chúa làm chủ, để Ngài hướng dẫn, mình chỉ là người thừa hành thánh ý của Ngài thôi, thì sẽ dễ đi đến thành công.


3. Hãy ý thức sự yếu hèn, bất lực của mình và hoàn toàn cậy trông

I-sai-a, Phao-lô, và các tông đồ trong ba bài đọc hôm nay, đều nhận thấy mình là kẻ yếu đuối, tội lỗi, bất xứng, không chỉ trước mặt Chua, mà còn trước công việc Chúa giao phó nữa. Nhưng trong thực tế, các ông đã làm nên những việc vĩ đại, và trở nên những vị thánh lớn, không phải vì các ông tài giỏi trong những công việc các ông làm cho bằng các ông ý thức được sự bất lực và dốt nát của mình, nên hoàn toàn để Chúa hành động. Khi làm việc của Chúa, hãy để cho Chúa thấy rằng đó là công việc của Ngài chứ không phải việc của ta. Hãy dành cho ngài quyền quyết định tối thượng trong tất cả những công việc ấy, ta chỉ là người thừa hành, là dụng cụ, và hãy cố gắng đem hết tâm lực để làm công việc thừa hành ấy. Và sau khi đã làm hết mình thì hãy tự nhủ: tôi chỉ là một người đầy tớ vô ích (xem Lc 17,10), không tự hào, không cậy công. Đừng làm một điều gì theo ý riêng, theo kinh nghiệm hay sự khôn ngoan của cá nhân mình. Đó là bí quyết thành công khi làm những công việc của Chúa.

Đối với công việc của Chúa, người càng tự hào thì càng thất bại, và càng khiêm nhượng thì càng thành công. «Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống, và ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên», càng cậy vào sức riêng mình thì càng thất bại nặng nề, càng tin tưởng vào tình thương, quyền năng và sức mạnh của Chúa thì càng thành công vẻ vang. Sự thành công vĩ đại của I-sai-a, Phao-lô và các tông đồ của Đức Giêsu trong công việc Chúa đã chứng minh điều đó.


NGUYỆN:
Lạy Cha, xin cho con biết tín thác vào Cha trong mọi công việc, nhất là những công việc của Cha, những công việc mà Cha kêu gọi con làm cho Cha. Cho con biết tín thác vào Cha trong cả những công việc con chỉ làm cho cá nhân con, cho gia đình con. Xin cho con biết nỗ lực hết sức khi làm mọi công việc, làm như thể thành công hay thất bại là hoàn toàn tùy thuộc vào con. Nhưng sau khi đã cố gắng hết sức mình, thì lại phó thác tất cả mọi sự cho Cha, như thể tất cả đều tùy thuộc vào Cha. Xin cho con vừa biết nỗ lực vừa biết cậy trông trong tất cả mọi công việc con làm. Amen.

John Nguyễn

 

 

ĐỨc Giêsu gỌi Ông Simon Phêrô

Lm Augustine SJ

 

Đọc Tin Mừng Lc 5,1-11

Một hôm, đám đông chen lấn nhau đến sát bên Người để nghe lời Thiên Chúa, mà Người thì đang đứng bên bờ hồ Ghennêxarét. Người thấy hai chiếc thuyền đậu dọc bờ hồ, còn những người đánh cá thì đã ra khỏi thuyền và đang giặt lưới. Đức Giêsu xuống một chiếc thuyền, thuyền đó của ông Simon, và Người xin ông chèo thuyền ra xa bờ một chút. Rồi Người ngồi xuống, và từ trên thuyền Người giảng dạy đám đông.

Giảng xong, Người bảo ông Simon: "Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá". Ông Simon đáp: "Thưa Thầy, chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả. Nhưng dựa vào lời Thầy, tôi sẽ thả lưới". Họ đã làm như vậy, và bắt được rất nhiều cá, đến nỗi hầu như rách cả lưới. Họ Làm hiệu cho các bạn chài trên chiếc thuyền kia đến giúp. Những người này tới, và họ đã đổ lên được hai thuyền đầy cá, đến gần chìm.


Thấy vậy, ông Simon Phêrô sấp mặt dưới chân Đức Giêsu và nói: "Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi !" Quả vậy, thấy mẻ cá vừa bắt được, ông Simon và tất cả những người có mặt ở đó với ông đều kinh ngạc. Cả hai người con ông Dêbêđê, là Giacôbê và Gioan, bạn chài với ông Simon, cũng kinh ngạc như vậy. Bấy giờ Đức Giêsu bảo ông Simon: "Đừng sợ, từ nay anh sẽ bắt người như bắt cá. Thế là họ đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Người.


Gợi ý để sống và chia sẻ Tin Mừng


Chúa quen biết Ông Simon

 Tin Mừng theo thánh Máccô đặt câu chuyện Đức Giêsu gọi các môn đệ đầu tiên vào ngay buổi đầu sứ vụ của Ngài: Ngài đã gọi bốn anh em Phêrô, Anrê, Gioan và Giacôbê (Mc1,16-20) trước khi Ngài trừ quỉ và chữa bệnh ở Capharnaum (1,21-34). Còn trong Tin Mừng thứ ba, thánh Luca lại muốn đặt việc Đức Giêsu gọi các môn đệ đầu tiên vào sau một loạt những phép lạ (Lc 4,31-41).

 

Theo thánh Luca, Đức Giêsu đã hoạt động một mình trong thời gian đầu tiên (Lc 4,14-44). Ngài đã giảng dạy ở Nadarét, ở Capharnaum. Người ta "thán phục những lời hay ý đẹp thốt ra từ miệng Ngài." (Lc 4,22). Người ta "kinh ngạc về giáo huấn của Ngài, bởi vì lời Ngài là lời có uy quyền." (Lc 4,32). Ngài đã quát bảo quỉ ô uế và bắt nó xuất ra (4,35). Ngài cũng đã quát bảo cơn sốt và nó đã lui khỏi bà mẹ vợ của ông Simon (4, 39). Đức Giêsu đã chữa lành nhiều bệnh nhân khác bằng cách đặt tay (4,40). Thời gian hoạt động đầu tiên của Ngài còn là thời gian dành cho cô tịch và cầu nguyện (4,42). Đức Giêsu ý thức về nhiệm vụ của mình: "Tôi còn phải đem Tin Mừng Nước Thiên Chúa cho các thành khác nữa, vì Tôi được sai đi cốt để làm việc đó." (4,43). Đức Giêsu không dừng lại ở một nơi nào, Ngài muốn đi khắp nơi trong nước Palestine, và Ngài biết mình cần có những người cộng sự trước cánh đồng mênh mông đó.


Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy cảnh đám đông chen chúc bên Đức Giêsu để nghe Lời Thiên Chúa. Ngài đứng bên bờ hồ. Ngài thấy hai chiếc thuyền đậu gần bờ, các ngư phủ đang giặt lưới sau một vụ ra khơi đánh cá. Để dễ giảng cho đám đông, Ngài lên một chiếc thuyền, chiếc của ông Simon. Ngài yêu cầu ông cho thuyền ra xa bờ một chút, rồi từ đó Ngài giảng dạy đám đông. Chúng ta thấy rõ Đức Giêsu đã quen biết ông Simon. Cách Ngài gặp ông trong đoạn Tin Mừng này thật tự nhiên. Ngài đã từng đến nhà chữa bệnh cho bà mẹ vợ của ông, chắc Simon đã có lần được nghe Đức Giêsu giảng và thấy một vài phép lạ Ngài làm. Ông có thiện cảm đối với Ngài, và ngược lại Ngài cũng "để ý" đến ông, dù Ngài biết ông đã có gia đình. Chúa gọi những người Chúa đã quen biết qua mối liên hệ trong đời thường. Chính qua những cuộc gặp gỡ trên bước đường rao giảng mà Chúa tìm thấy những cộng sự viên do Cha sai đến. Ơn gọi bắt đầu bằng sự quen biết, bằng tương giao giữa Chúa và tôi, giữa tôi và Chúa.


Chúa thử Ông Simon

 Sau khi giảng xong, Đức Giêsu bảo ông Simon chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá. Ông Simon có thể đưa ra nhiều lý do xác đáng để từ chối lời yêu cầu của Đức Giêsu, "Thưa Thày, chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì…" chắc phải chờ hôm khác. Có những ngày chẳng thấy bóng một con cá nào. Kinh nghiệm của dân chài chúng tôi cho thấy có thả lưới nữa cũng vô ích. Vả lại, bây giờ, chúng tôi đã mệt nhoài sau một đêm vất vả. Lưới đã được giặt và đem phơi… Simon có thể nghỉ như vậy và từ chối lời gợi ý của Đức Giêsu. Thậm chí, ông còn có thể nghĩ rằng Thày Giêsu đã đi quá phạm vi của mình. Chuyện bắt cá ở chỗ nước sâu không thuộc về nội dung của bài giảng, cũng không phải là nghề chuyên môn của Thày Giêsu, vốn làm nghề mộc. Có cần phải vâng lời không?


Simon đã vâng lời. Ông đã tin vào lời mời của Đức Giêsu: "Nhưng dựa vào lời Thày, tôi sẽ thả lưới." Ông thả lưới chỉ vì ông tin vào lời của Thày. Chắc ông đã có một kinh nghiệm nào đó về sức mạnh của lời này: lời giảng đầy uy quyền (4,32), lời đuổi quỷ (4,35), lời có uy quyền và uy lực (4,36), lời chữa bệnh (4,39). Thế nên, giờ đây, Simon sẵn sàng làm một điều, tuy không phải là phi lý, nhưng lại vượt trên lối suy luận thông thường, vượt trên kinh nghiệm nghề nghiệp, vượt trên cả sự mệt mỏi của thân xác.


Tin vào Lời Chúa đòi hỏi một sự từ bỏ cái lý luận rất vững chắc xét theo kiểu người đời, để sống cái mong manh của Thiên Chúa trong một niềm tin không lay chuyển. Tin vào Lời Chúa đòi ra khơi buông lưới một lần nữa, lúc đã mệt nhoài. Ơn gọi của Simon được lớn lên nhờ đón nhận và vượt qua những thử thách của niềm tin.


Chúa tỏ Mình cho Ông Simon

 Mẻ cá lạ là phương tiện để Đức Giêsu tỏ mình, là sự đáp trả của Ngài trước niềm tin của ông Simon. Nhiều cá đến nỗi hầu như lưới bị rách (c.6), hai thuyền đầy cá gần chìm (c.7). Simon và những người trong thuyền của ông đã phải cầu cứu sự trợ giúp từ thuyền của Gioan và Giacôbê (c.10).


Điều mà tôi đã vất vả tìm kiếm thì không được gì. Bây giờ tôi không phải vất vả tìm kiếm mà lại được dư dật. Dư dật tràn trề là dấu hiệu cho thấy bàn tay quảng đại của Thiên Chúa: rượu đầy 6 chum lớn ở Cana, bánh hoá nhiều còn dư để nuôi dân chúng.


Trước mẻ cá lạ lùng, bất ngờ, vượt quá điều trí khôn có thể nghĩ, Simon thấy ngay mình đang sống trong một bầu khí linh thánh. Ông chợt nhận ra Đức Giêsu trong một ánh sáng rạng ngời, và với ánh sáng đó, ông cũng chợt nhận ra bản thân. "Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi." Xin tránh xa con vì con biết Ngài là ai: Ngài là Đấng có quyền năng của Thiên Chúa. Xin tránh xa con vì con biết con là ai: một tội nhân trước Đấng Thánh của Thiên Chúa.


Trong đời tôi, Chúa cũng có lần cho tôi một kinh nghiệm chói loà, khiến tôi kinh ngạc, ngây ngất. Ngài cho tôi gặp Ngài và gặp bản thân, sau một lần tôi vượt qua chính mình, gạt bỏ những dụ phóng riêng tư, những tính toán khôn khéo, để buông mình sống theo ý Chúa.


Chúa gọi Ông Simon

 Đứng trước việc Chúa tỏ mình, Simon và các bạn của ông cảm thấy run sợ. Họ nhận ra khoảng cách lớn lao giữa bản thân mình với Đấng Thánh. "Đừng sợ", đó là lời trấn an thường gặp trong Cựu Ước và đặc biệt trong Tin Mừng Luca (1,13.30; 2,10; 5,10; 8,50; 12, 7.32). Sau lời trấn an là lời trao sứ mạng: "Từ nay về sau, con sẽ đi bắt người ta." Cuộc đời ông Simon như được chia làm hai phần: bắt cá và "bắt" người, ngư phủ và tông đồ. Bây giờ mối quan tâm của ông Simon không phải là cá mà là con người. Một cuộc đời mới đang mở ra trước mắt ông. Ông không thấy rõ con đường mình sắp đi, cũng không thấy có gì bảo đảm cho tương lai. Ông cũng chưa rõ phải giải quyết chuyện gia đình như thế nào. Nhưng phép lạ vừa rồi lại khiến ông vững tâm trước lời mời của Đức Giêsu, lời quyền năng, lời thực hiện những gì đã nói.

Trong niềm tín thác vô bờ vào Thày Giêsu, Simon đã bước một bước quyết định: "Sau khi đưa thuyền vào bờ, họ đã bỏ mọi sự mà theo Ngài." Bỏ mọi sự, bỏ cả những điều mà mình yêu mến và vẫn còn yêu mến: gia đình, cha mẹ, vợ con, thuyền bè và biển cả. Bỏ vì được cuốn hút bởi một tình yêu lớn hơn. Bỏ là để đi theo một Người và cùng với Người đó phục vụ cho nhiều người.


Trong đoạn Tin Mừng hôm nay nổi bật lên khuôn mặt ông Simon. Chúng ta nên nhớ ông Simon là một ngư phủ, không có học thức cao và đã lập gia đình. Ông giống như một giáo dân bình thường ở một họ đạo gần vùng biển. Chẳng ai dám nghĩ tới đời ông có thể rẽ sang một hướng mới. Ay thế mà chuyện ấy lại xảy ra cho ông. Ông trở thành Đá Tảng cho toà nhà Hội Thánh. Hội Thánh được xây dựng trên những ông đánh cá ở hồ Galilê, và đã đứng vững suốt 20 thế kỷ. Phép lạ đó lớn gấp ngàn lần phép lạ bắt được nhiều cá. Vậy đoạn Tin Mừng hôm nay không chỉ dành cho linh mục, tu sĩ, mà dành cho mọi giáo dân. Ai cũng phải sẵn sàng nghe tiếng Chúa gọi, xuyên qua những biến cố bình thường hay lạ lùng của cuộc sống hàng ngày. Ai cũng phải vui lòng để Chúa đưa mình đi vào hướng mới, khác với những lối mòn quen thuộc. Và nhất là ai cũng phải mau mắn bỏ mọi sự mà theo Chúa. Bỏ mọi sự chính là đặt mọi sự dưới Chúa và sử dụng mọi sự trong Chúa.


Một số câu hỏi gợi ý

1.                 Vâng theo Lời Chúa, buông lưới và gặt hái được một kết quả bất ngờ. Có khi nào trong đời bạn, bạn có một kinh nghiệm tương tự như kinh nghiệm của ông Simon không?

2.                 Theo ý bạn, bỏ mọi sự như ông Simon có khó không? Điều gì đối với bạn là khó bỏ hơn cả?

Lm Augustine SJ

 

 

MẺ cá lẠ lùng.

Lm. Damien OFM


Luca đặt phép lạ mẻ cá lạ lùng nầy vào một khung cảnh rất đông người : "Dân chúng chen nhau lại gần Chúa Giêsu để nghe Người giảng lời của Thiên Chúa". Luca có ý cho tất đám đông chứng kiến phép lạ nầy.


Mẻ Cá Lạ Lùng.

Phép lạ mẻ cá lạ lùng đi kèm theo những lời giảng dạy để tăng thêm uy tín cho những lời Chúa vừa nói.


Phép lạ nầy nói lên rằng, kết quả tốt đẹp của cuộc sống không chỉ do sự cố gắng của con người : "Thưa Thầy, chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không được gì hết!"


"Nhưng vì lời Thầy, tôi sẽ thả lưới": Đây là một phép lạ của lòng tin của Phêrô. Trước khi làm một phép lạ, Chúa Giêsu thường đòi hỏi lòng tin. Một người trong nghề như Phêrô biết phải đánh cá khi nào và chỗ nào thì mới có cá. Mặt trời đã mọc, trời đã sáng, nước thì trong, làm gì mà bắt được cá; hơn nữa lại ở gần bờ, làm gì có cá mà bắt ! Vì thế, hơn ai hết, Phêrô là người nhận ra phép lạ đầy thuyết phục đó, nên ông đã quì xuống trước mặt Chúa mà nhận ra thân phận hèn yếu của mình.


"Lạy Thầy,xin tránh xa con vì con là người tội lỗi." Phêrô khiêm tốn nhận ra sự bất lực của mình, nhận ra khoảng cách giữa Thiên Chúa và con người phàm hèn: "Xin tránh xa con vì con là người tội lỗi":như thế có nghĩa là Chúa là Đấng tốt lành và đầy quyền năng. Chúa liền an ủi ông: "Đừng sợ hãi".


Tác dụng của mẻ cá lạ lùng.

Mẻ cá lạ lùng đó đã có tác dụng lớn : "Bây giờ các ông đưa thuyền vào bờ, và đã từ bỏ mọi sự mà đi theo Người". Các Tông Đồ đi theo Chúa vì tin ở Người. Nền tảng ơn gọi của họ là đức tin. Những ai bước theo Chúa Kitô cũng phải thấy rõ điều nầy. Không tin thì làm sao mà từ bỏ và dấn thân được ?


Trong đời sống kitô hữu, vì tin, nên tôi đã từ bỏ những gì ? Suy nghĩ cho kỹ, tôi thấy là kitô hữu hay là tu sĩ, cho đến nay tôi chưa bỏ gì bao nhiêu, trái lại tôi lại chỉ nhận thêm mà thôi:nhà cửa, cơm ăn áo mặc,học hành, danh dự, lòng thương yêu kính trọng của mọi người kể cả sự sống của tôi nữa. "Ai muốn theo Ta,hãy từ bỏ": Lời Chúa đã thành sự thật nơi các Tông Đồ, nơi các thánh, nhưng chưa thành sự thật nơi tôi.


"Họ bỏ mọi sự mà theo Người":Chuá nói với tôi rằng, điều kiên đầu tiên để theo Chúa là từ bỏ, nhất là từ bỏ mình. Mỗi ngày, tôi có rất nhiều dịp để từ bỏ, để chia sẻ, nhưng tôi đã bỏ qua hay tránh né. Thế mà tôi lại tự cho mình là người bước theo Chuá Kitô ! Đời sống kitô hữu, đời tu nơi tôi chỉ là ăn theo, chưa có gì tích cực bao nhiêu. Vì vậy trong thực tế, tôi chưa hẳn đã là người bước theo chúa Kitô.


Phép lạ mẻ cá lạ lùng hôm nay với những hậu quả của nó nơi các Tông Đồ, đang cật vấn tôi, cật vấn cách sống của tôi.


Nhưng vì lời Thầy, tôi sẽ thả lưới.

Vì lời Thầy, nghĩa là dựa vào lời Thầy, hay tin vào lời Thầy. Lời nói của Thánh Phêrô trên đây cũng đang cật vấn tôi : Tôi đang hoạt động, nhiều khi một cách vô tình, chỉ dựa trên sự khó nhọc suốt đêm của mình, ít dựa vào sức mạnh của Chúa, Đấng đang ngự trong tôi. Cho nên khi thất bại thì tôi buồn và thất vọng; khi thành công, tôi lại lấy làm hảnh diện làm như đó là do công lao của mình. Thật ra trong đời sống Tông Đồ, chúng ta gieo, nhưng Chuá mới làm cho hạt giống lớn lên; chúng ta gieo, nhưng chính Chuá mới làm cho con người thay lòng đổi dạ. Kết quả là do Chúa, còn chúng ta chỉ là những dụng cụ vô ích. Suy nghĩ đó đưa đến một hệ luận quan trọng: Trong đời sống tông đồ của người kitô hữu cũng như của người tu sĩ linh mục, những lao công vất vả của con người phải đi đôi với lời cầu nguyện và việc sống kết hiệp với Chúa.


Vì vậy khi tôi lo cho cuộc sống trần thế hay làm việc tông đồ, tôi không được quên chỗ đứng quan trọng của Chuá trong đời tôi.

Tin vào quyền năng của Chúa.

Chuyện kể rằng, có một thanh niên kia thích trò mạo hiểm. Anh mang một chiếc dù nhà binh đến đứng bên bờ một vực thẳm, tính chơi cho thỏa chí mạo hiểm của anh. Chẳng may anh trượt chân, rơi vào vực thẳm. Tình cờ anh nắm được nhánh cây xìa ra. Thật hú vía, tuy chưa hết nguy hiểm, nhưng như thế nầy thì còn hy vọng được cứu thoát.


Ngước mắt nhìn lên, anh không thấy ai cả; nhìn xuống, anh choáng váng mặt mày vì vực thẳm quá sâu. Anh biết không thể nắm mãi cành cây; bây giờ chỉ biết cầu nguyện: " Lạy Chúa xin cứu con. Con xin làm bất cứ điều gì Chúa muốn." Bỗng có tiếng từ trời vọng xuống: "Được, Ta sẽ cứu con. Nhưng trước khi Ta cứu, Ta muốn biết con có tin Ta sẽ làm được việc nầy không ?" Anh trả lời: "Lạy Chúa con tin chứ! Con tin chắc là Chúa cứu con được mà. Cứu con ngay đi Chuá ơi! Con mỏi tay lắm rồi!". Chúa nói: "Được rồi, nếu con tin thì hãy buông tay ra". Chàng thanh niên vẫn nắm chặt cành cây chứ không chịu buông; rồi chàng ngóc đầu lên bờ vực và la lớn: "Có ai trên đó, cứu tôi với!"


Giả sử chúng ta ở trong trường hợp đó thì ai trong chúng ta dám buông tay ? Đức tin của ta có đủ mạnh để tin vào quyền năng Chúa trong những nghịch cảnh xảy ra trong đời sống chúng ta không ?

 Lm. Damien OFM

 

 

“Sống thuận theo ý Chúa

thì khôn ngoan hơn sống theo ý mình”

Joan Nguyễn Chính Kết

 

1. Cứ tuân theo ý Chúa, sẽ chứng kiến nhiều việc lạ lùng

Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy: nhờ vâng lời Đức Giêsu, Simon đã thành công trong mẻ lưới cá đêm ấy. Điều đáng lưu ý là lệnh truyền hay ý muốn của Đức Giêsu trong trường hợp này rất ngược với ý muốn hay kinh nghiệm nhà nghề của Simon. Ông đã đánh cá suốt đêm mà không bắt được con cá nào, nên theo kinh nghiệm bao năm trong nghề của ông, ông nghĩ nếu có tiếp tục đánh nữa thì cũng chẳng có kết quả gì. Mặc dù vậy, ông vẫn vâng lời Thầy mình, nhờ đó ông đã tận mắt chứng kiến sự lạ lùng xảy ra.

Đó là một bài học cho chúng ta trong cuộc đời Kitô hữu giữa trần gian. Chúng ta – dù là người được mọi người coi là khôn ngoan nhất – không thể biết chắc chắn hành động như thế nào thì sẽ đem lại kết quả tốt đẹp nhất. Rất nhiều tính toán – mà ai cũng phải công nhận đó là những tính toán hết sức khôn ngoan kiểu trần gian – lại dẫn đến những kết quả bi thảm. Chính vì thế dân gian mới có câu: «May hơn hay», «Người tính không bằng Trời tính», «Mưu sự tại nhân, thành sự tại Thiên». Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy: để thành công và hạnh phúc, tốt nhất ta nên hành động theo ý muốn của Thiên Chúa. Vì Ngài yêu thương ta hơn chính ta yêu thương mình, luôn mong muốn ta được hạnh phúc. Ngài lại khôn ngoan vô cùng, chẳng những biết cách tốt nhất và hữu hiệu nhất để ta hạnh phúc, mà còn có quyền năng vô biên để giúp ta thực hiện cách tốt nhất ấy nữa. Vì thế, cách khôn ngoan nhất của ta là phó mặc vận mạng của mình trong tay Ngài, và cương quyết làm tất cả những gì Ngài muốn ta làm.

Rất nhiều trường hợp, điều Ngài muốn ngược lại với sự khôn ngoan hay cách tính toán của ta. Nhưng nếu ta cứ quyết tâm làm theo ý Ngài thì kết quả cuối cùng chắc chắn sẽ có lợi cho ta hơn là ta làm theo ý muốn hay sự khôn ngoan của ta. Người Trung Hoa có câu: «Thuận Thiên giả tồn, nghịch Thiên giả vong» (Hành động thuận theo ý Trời thì sẽ tồn tại, còn làm ngược lại ý Trời thì sẽ tiêu vong).

 

2. Chia sẻ kinh nghiệm cuộc đời

Tôi – người viết bài này – xin chia sẻ kinh nghiệm sau đây. Cuộc đời tôi có hai giai đoạn: giai đoạn sống theo ý muốn của mình, và giai đoạn từ bỏ mọi ý riêng để hoàn toàn sống theo ý của Thiên Chúa. Chỉ trong giai đoạn sau tôi mới sống bình an, hạnh phúc và mạnh mẽ.

 

a) Giai đoạn sống theo ý muốn của mình:

Trong giai đoạn này, tôi lấy «cái tôi» của mình là trung tâm (égocentrique) và coi những gì liên quan đến «cái tôi» ấy là quan trọng (trong đó có ý kiến của tôi, quan điểm của tôi, ý muốn của tôi…) Vì thế, tôi luôn tìm cách đề cao «cái tôi» của mình, điều này thường đồng nghĩa với việc tìm cách hạ «cái tôi» của người khác xuống. Khi thấy người khác được ca tụng, nổi bật, còn mình bị chìm lỉm giữa đám đông, tôi thường cảm thấy buồn bã, đau khổ, thậm chí bị xúc phạm. Trong tôi hình thành nhiều tham vọng về tâm linh cũng như về xã hội.

 

Về tâm linh, tôi quyết tâm trở nên một vị thánh lớn như Têrêxa hay Phanxicô. Tôi muốn mọi người phải khâm phục tôi là thánh thiện, đạo cao đức cả. Về xã hội, tôi quyết trở nên một nhân vật nổi bật: trong Giáo Hội thì phải là một chức sắc cao, ngoài xã hội thì phải là bậc vị vọng. Và tôi quyết tâm tu đức, học hành, cố gắng tập luyện hầu đạt được những tham vọng đó. Tôi trở thành một con người duy ý chí: tôi nghĩ cứ quyết tâm là được, và coi mọi ý muốn của mình là quan trọng. Từ đó tôi có tính hay áp đặt ý muốn của mình trên người khác, muốn mọi người phải theo ý của mình. Nếu ý mình không được thực hiện, tôi cảm thấy bị xúc phạm và đau khổ rất nhiều.

 

Sống với ý hướng như vậy hàng chục năm, tôi cảm thấy tâm hồn mình không bình an, không hạnh phúc. Về tâm linh, tôi luôn phải đối diện và bất mãn vì những yếu đuối của mình. Tôi quyết tâm cao độ rất nhiều điều tốt đẹp, nhưng cuối cùng xét lại chẳng thực hiện được bao nhiêu. Về xã hội, so sánh với nhiều người, tôi thấy mình vẫn bị thua kém, khiến tôi luôn luôn bị dằn vặt, đau khổ. Nỗ lực liên tục trong đau khổ như thế, một thời gian sau tôi bị bệnh: bắt đầu là bệnh dạ dày, sau đến bệnh ho lao, cơ thể tôi suy yếu, và tôi đâm ra chán chường thất vọng… Nhưng về sau tôi đã trở nên hạnh phúc và khỏe mạnh nhờ thay đổi cách suy nghĩ và cách sống.

 

b) Giai đoạn sống theo ý muốn của Thiên Chúa:

Trong thời gian sống khắc khoải như thế, tôi đã dành một thời gian rất dài để nghiên cứu, tìm hiểu các tôn giáo khác. Tôi nhận ra tôn giáo nào cũng đòi hỏi con người phải coi nhẹ «cái tôi» của mình và những gì liên quan đến «cái tôi» ấy, đồng thời đặt nặng việc sống theo những đòi hỏi của «Đạo», của lẽ phải, của sự khôn ngoan, hợp lý, của luật lệ tôn giáo… Nhờ vậy, trong đời sống tâm linh Kitô hữu, tôi hiểu được sự cần thiết của tinh thần «tự xóa» (kenosis) và của lập trường hoàn toàn làm theo thánh ý Thiên Chúa. Chính Đức Giêsu đã nêu gương sáng ngời về hai điều ấy. Ngài đã tự xóa mình một cách hoàn toàn (x. Pl 2,6-8), và triệt để tuân theo thánh ý Chúa Cha trọn đời Ngài: «Tôi không tìm cách làm theo ý riêng tôi, nhưng theo ý Đấng đã sai tôi» (Ga 5,30; x. 6,38; 4,34).

 

Hiểu được như thế, tôi tập sống quên mình, không lấy mình hay ý muốn của mình làm trung tâm nữa, mà lấy Thiên Chúa làm trung tâm, đồng thời luôn cố gắng sống thuận theo thánh ý Ngài. Theo tôi, ý của Thiên Chúa được biểu lộ qua tiếng lương tâm, qua lời của Ngài trong Kinh Thánh, qua sự hợp tình hợp lý đòi hỏi, qua lề luật tôn giáo, qua các định luật hay lẽ tự nhiên trong vũ trụ, qua những dữ kiện khách quan xảy ra, qua thiên cơ hay những dấu chỉ thời đại. Tôi bắt đầu từ bỏ mọi tham vọng, mọi ý riêng: không còn mong muốn mình trở nên một nhân vật to tát nữa, mà sẵn sàng chấp nhận làm một người nhỏ bé, tầm thường nhất, và không còn coi ý muốn của mình là quan trọng nữa. Tôi nhận ra ngay cả ý muốn trở nên một vị thánh cao cả của tôi trước đây cũng chỉ là một thứ tâm lý muốn «phình to bản ngã», một hình thức của tính kiêu ngạo.

Rất nhiều sự việc xảy đến ngược lại sự khôn ngoan hay dự tính của tôi, mà tôi thấy trước mắt là bất lợi cho tôi. Nhưng khi tôi thấy rằng mình không thể thay đổi được, và nhận ra rằng ý của Thiên Chúa là muốn tôi vui vẻ chấp nhận, thì tôi sẵn sàng vâng theo. Tôi phó thác để mặc Ngài dẫn tôi đi đâu tùy ý Ngài. Thường là sau một thời gian, tôi nhận ra rằng điều mà trước đó tôi cho là bất lợi ấy cuối cùng lại trở nên hết sức ích lợi cho tôi. Dần dần tôi chứng nghiệm được rằng «Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người» (Rm 8,28). Kinh nghiệm cho tôi thấy: khi những bất lợi xảy đến, nếu cứ vui vẻ đón nhận theo ý Thiên Chúa và kiên nhẫn chờ đợi, thì tất cả những bất lợi ấy cuối cùng đều trở nên lợi ích.

 

Sống «vô ngã» và sống không có ý riêng như vậy, tôi cảm thấy mình thanh thản hơn xưa rất nhiều. Thay vì sợ đau khổ thì sẵn sàng chấp nhận mọi khổ đau đến với mình; thay vì lấy hạnh phúc của mình làm mục đích phải đạt tới thì lấy thánh ý Thiên Chúa và hạnh phúc của người khác làm đối tượng tìm kiếm và thực hiện. Sống như vậy, tôi cảm thấy tâm hồn bình an và không còn nhạy bén với đau khổ như xưa. Dường như càng sợ và tránh đau khổ thì ta càng nhạy bén với đau khổ và càng vướng vào đau khổ. Còn càng chấp nhận đau khổ – bất cứ loại đau khổ nào – để thực hiện thánh ý Thiên Chúa và hạnh phúc của tha nhân thì đau khổ càng không ảnh hưởng được tới mình. Hiện nay tôi thấy mình hạnh phúc và thành công hơn xưa rất nhiều. Sức khỏe tôi cũng được cải thiện, mọi bệnh tật đều tan biến, và tôi cảm thấy tràn đầy sức sống, cả tinh thần lẫn thể chất. Một điều khá lạ lùng là những tham vọng mà tôi đã dẹp bỏ, mà giờ đây tôi không thèm quan tâm thực hiện nữa thì lại đang thành tựu tốt đẹp theo kiểu «bất chiến tự nhiên thành», hay không muốn mà được! Vì thế, tôi cho rằng sống theo ý Chúa thì khôn ngoan và thành công hơn là sống theo ý mình.

 

CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, nhiều khi đứa con nhỏ của con cứ nhất quyết làm theo ý của nó, cách thức của nó vì nó cho rằng phải làm như thế thì mới khôn ngoan và thành công. Trong khi đó, con lại nhìn thấy nếu nó cứ làm theo ý nó hay cách của nó thì chắc chắn sẽ thất bại. Nhưng nó không nghe con và cuối cùng nó đã thất bại. Từ sự việc đó, con nhận ra chính con cũng hành động ngu xuẩn như nó khi con cứ khăng khăng làm theo ý của con chứ không theo ý của Cha. Và con đã thất bại ê chề trong cuộc sống. Con đã sống trong đau khổ bao năm vì cứ cố chấp sống theo ý của con. Nay con đã nhận ra rằng sống theo ý của Cha là cách đơn giản nhất, dễ dàng nhất và khôn ngoan nhất để thành công và hạnh phúc trong cuộc đời. Xin cho con giữ được sự khôn ngoan này suốt cuộc đời con. Amen.

Joan Nguyễn Chính Kết

 

CHÚA NHẬT  5 QUANH NĂM

(Lu-ca 5: 1-11)

       Lm. Ðaminh Trần Ðình Nhi

 

        Sau khi bị ngược đãi tại quê nhà, Chúa Giê-su rời Na-da-rét tiến sang Ca-phác-na-um, nơi Người đã khởi đầu sứ vụ.  Có lẽ sau những ngày bắt đầu tại Ca-phác-na-um, Chúa Giê-su đã nhìn thấy nhu cầu phải có những người cộng tác.  Người đặt hy vọng trước hết nơi những người thân thuộc bạn bè từ hồi niên thiếu.  Do đó Người đã trở về Na-da-rét, mong tìm được những người đồng chí hướng.  Nhưng Người đành phải chào thua thói thường bụt nhà không thiêng.

        Tại Ca-phác-na-um, Chúa Giê-su kêu gọi bốn môn đệ.  Ông Phê-rô là người đầu tiên được kêu gọi.  Thánh Lu-ca đã khéo léo ghi lại mọi hoàn cảnh liên hệ đến việc kêu gọi này, từ ngoại cảnh cho đến niềm thán phục tận trong tâm hồn, để diễn tả việc Phê-rô đáp lại lời gọi của Chúa sẽ là gương mẫu cho tất cả những ai muốn dấn thân làm môn đệ Chúa.  Nói khác đi, Chúa gọi ta làm môn đệ Người thì lời gọi của Người được biểu lộ qua những hoàn cảnh bên ngoài và lời đáp lại của ta sẽ là thái độ khiêm tốn nhìn nhận mình bất xứng, nhưng vẫn muốn quảng đại đi theo Người và tín thác hoàn toàn nơi Người.  Ta có thể nhận ra tiến trình làm môn đệ Chúa qua việc Chúa gọi Phê-rô.

 

a)  Ngoại cảnh ơn gọi làm môn đệ của ông Phê-rô

        Để hiểu được những lý do nào đưa tới việc Chúa gọi ông Phê-rô và ông đáp lại lời gọi của Chúa, ta nên đọc lại mấy đoạn Tin Mừng trước đó, để thấy rằng có những ngoại cảnh đã đưa Chúa Giê-su và Phê-rô đến với nhau.

        Trước hết là những gì đã xảy ra tại Ca-phác-na-um.  Ca-phác-na-um, một làng đánh cá bên bờ hồ Ghen-nê-xa-rét và là quê hương của Phê-rô, ít lâu nay không còn im lìm từ khi Chúa Giê-su xuất hiện.  Tất cả những gì người ta thấy và nghe tại đây đều gây một ấn tượng mạnh mẽ cho Phê-rô.  Thánh Lu-ca ghi lại một vài biến cố tiêu biểu mà nhân vật chính là Chúa Giê-su.  Chúa Giê-su giảng dạy và chữa lành một người bị quỷ ám (Lc 4:31-37).  Chúa Giê-su chữa bà mẹ vợ ông Phê-rô khỏi cơn sốt (Lc 4:38-39).  Chúa Giê-su chữa lành đủ thứ bệnh nhân và những người bị quỷ ám (Lc 4:40-41).  Chúa Giê-su lên đường đi rao giảng khắp miền Giu-đê (Lc 4:42-44).  Tất cả những gì Chúa Giê-su thực hiện và rao giảng đã giúp ông Phê-rô nhận ra Người không tầm thường như những người khác.  Tuy nhiên vẫn chưa có một quan hệ cá nhân nào giữa hai người, mãi cho tới khi Chúa chữa lành cơn sốt cho bà mẹ vợ ông.  Việc chữa lành này đã lôi cuốn ông đến gần Chúa hơn và trở nên quảng đại với Chúa hơn.  Ông đã hy sinh những mẻ lưới cá, neo thuyền bên bờ hồ và để cho Chúa sử dụng thuyền của ông, phương tiện sinh sống của ông, làm giảng đài và “thí điểm truyền giáo.”

        Khi kể lại những điều Chúa Giê-su làm tại Ca-phác-na-um, thánh Lu-ca như muốn diễn tả một cánh đồng truyền giáo, một tình huống của nhân loại cần được nghe Tin Mừng rao giảng và cảm nghiệm tình yêu Thiên Chúa.  Rao giảng, chữa lành và tiêu diệt quyền năng của ma quỷ là tất cả nội dung của sứ vụ cứu thế mà Chúa Giê-su đã công bố khi Người tuyên đọc Sách Thánh tại hội đường Na-da-rét.  Ca-phác-na-um, cái nôi của công cuộc truyền giáo, chỉ là khởi đầu.  Chúa Giê-su đưa mắt nhìn về Giu-đê và toàn thế giới:  “Tôi còn phải loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa cho các thành khác nữa” (Lc 4:43).  Trong viễn ảnh đó, Người cần có những người cộng tác.  Hoàn cảnh thế giới cần chữa lành, cần chiến thắng thần dữ, cần nhận ra tình thương Thiên Chúa là yếu tố giúp ta nhận ra tính cách khẩn thiết của lời kêu gọi làm môn đệ Chúa Giê-su.  Hoàn cảnh ấy đặt câu hỏi trong tâm hồn Phê-rô:  Vậy tôi phải làm gì cho Chúa Ki-tô?

 

b)  “Đừng sợ, từ nay anh sẽ bắt người như bắt cá”

        Với những lời mộc mạc, ngắn gọn và thích hợp với con người Phê-rô, Chúa Giê-su nhìn thẳng vào mắt Phê-rô và nói với ông những lời trên.  Đâu cần phải khách sáo như Lưu Bị ba lần đến lều cỏ cầu Khổng Minh!  Chúa Giê-su đi thẳng vào tâm tư của Phê-rô:  đó là tâm tư sợ hãi và không biết sẽ làm gì.  Ông sợ sắp sửa phải phiêu lưu với một tương lai chẳng có gì rõ ràng.  Ông sợ không dám đến gần Chúa vì ông là kẻ tội lỗi.  Ông sợ cho mẹ già, vợ con.  Hằng trăm nỗi sợ nổi lên như sóng lớn.  Nhưng Đấng sẽ truyền cho sóng gió yên lặng nói với ông như ban một mệnh lệnh:  Đừng sợ.

        Trước mối ưu tư không biết sẽ làm gì của Phê-rô, Chúa Giê-su cũng có cách giải quyết của Người.  Dễ ợt mà!  Anh là dân đánh cá, thì anh cứ tiếp tục đánh cá!  Nhưng là loại cá có trí khôn, loại cá sẽ bị mắc vào lưới Nước Trời, vì “Nước Trời giống như chuyện chiếc lưới thả xuống biển, gom được đủ thứ cá...” (Mt 13:47).  Mẻ lưới cá vừa bắt được là điển hình cho thấy nếu Phê-rô đã thực hiện thành công theo lời chỉ dẫn của Chúa Giê-su về một mẻ cá biển hồ, thì chắc chắn ông cũng sẽ hoàn tất được sứ vụ mới dưới sự hướng dẫn của Thầy trong những mẻ cá thiêng liêng. 

Thành công của mẻ lưới giúp Phê-rô xác tín nhiều điều.  Nó giúp ông biết mình, biết Chúa.  Không chỉ là cái biết của trí óc, nhưng của con tim, của quan hệ mật thiết giữa Chúa và mình.  Ông biết mình là kẻ tội lỗi, không đáng theo Chúa.  Nhưng ông cũng biết Chúa sẵn sàng tiếp nhận ông, dạy dỗ ông trong ơn gọi làm môn đệ.  Cho nên mới có chuyện “đưa thuyền vào bờ, bỏ hết mọi sự mà theo Người.”

 

c)  Ơn gọi làm môn đệ Chúa là ơn gọi cho mọi người   

        Những gì Chúa đã làm cho Phê-rô cũng chính là những gì Chúa đã hoặc đang làm cho ta.  Nhìn vào bản thân, ta cũng thưa với Chúa:  Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!  Nhưng đáng tiếc, lời thưa đó thường lại ngầm hiểu là một lời thoái thác, chứ không phải là một nhìn nhận đích thực về sự bất xứng của ta.  Thưa như vậy để làm cớ trốn tránh cho lẹ thôi.  Ông Phê-rô thưa với Chúa những lời trên, nhưng với một thái độ chân thành, ngay thật và không có gì là che đậy, đúng như thánh Lu-ca mô tả:  “Ông Si-mon Phê-rô sấp mặt dưới chân Đức Giê-su và nói...” (Lc 5:8).

        Câu truyện ông Phê-rô làm môn đệ Chúa bao giờ cũng gợi cho ta những ý lạ, giúp ta cũng giống như ông, nghĩa là biết mình, biết Chúa.  Nhưng ta có dám bỏ hết mọi sự mà theo Người hay không, thì đó là chuyện của ta với Chúa.

 

d)  Suy nghĩ và cầu nguyện     

        Chúa Giê-su gọi tôi làm môn đệ Người trong hoàn cảnh nào?  Hoàn cảnh ấy thích hợp với sứ mệnh tông đồ nào của tôi?

        Có khi nào tôi nghĩ là Chúa cần tôi không?  Nếu không, thì tại sao?

        Khi nói với tôi:  “Đừng sợ, từ nay con sẽ bắt người như bắt cá,” Chúa muốn bảo tôi làm gì?

        Tôi bắt đầu theo Chúa để học điều gì?

        “Lạy Chúa Giê-su,

        sống cho Chúa thật là điều khó.

        Thuộc về Chúa thật là một thách đố cho con.

        Chúa đòi con cho Chúa tất cả

        để chẳng có gì trong con lại không là của Chúa.

        Chúa thích lấy đi những gì con cậy dựa

        để con thực sự tựa nương vào một mình Chúa.

Chúa thích cắt tỉa con khỏi những cái rườm rà

để cây đời con sinh thêm hoa trái.

Chúa cương quyết chinh phục con

cho đến khi con thuộc trọn về Chúa.

Xin cho con dám ra khỏi mình,

ra khỏi những bận tâm và tính toán khôn ngoan

để sống theo những đòi hỏi bất ngờ của Chúa,

dù phải chịu mất mát và thua thiệt.

Ước gì con cảm nghiệm được rằng

trước khi con tập sống cho Chúa

và thuộc về Chúa,

thì Chúa đã sống trong con

và thuộc về con từ lâu.  A-men.

                        (Trích RABBOUNI, lời nguyện 30)

 

Lm. Ðaminh Trần Ðình Nhi

 

 

Chúa là NiỀm Vui và là LẼ SỐng cỦa con

Giuse Nguyễn Văn Dũng op


Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, qua bài Tin Mừng hôm nay Chúa đã tỏ cho chúng con thấy đâu là quyền năng của Chúa khi chúng con biết đặt niềm tin tưởng nơi Ngài và lấy Ngài làm niềm vui và lẽ sống của chúng con.


Qua một đêm dài, sự thất vọng và chán nản vẫn còn đè nặng tâm hồn các ngư phủ nơi bờ hồ Ghennexarét vì không có một con cá nào vào lưới. Nhưng Chúa lại bảo với Phêrô : “Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá”. Xuất thân từ ngành mộc, làm sao Chúa có thể kinh nghiệm nghề đánh cá bằng Phêrô ? Bởi vậy, Phêrô mới phản ứng : “Thưa Thầy, chúng con đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả”.


Trên bình diện tự nhiên, Phêrô không thể nghe lời một người không chuyên môn như thế. Nhưng với niềm tin vào Chúa đã khiến ông vượt qua bình diện tự nhiên ấy mặc dù biết Chúa không phải là người làm nghề chài lưới. Ông đã mạnh mẽ nói : “Nhưng vâng lời Thầy, con sẽ thả lưới”. Sự vâng phục của ông đã được đáp lại: “Họ đã đổ lên được hai thuyền đầy cá, đến gần chìm”. Qua đó, Chúa đã cho các môn đệ đầu tiên thấy rằng những tính toán tự nhiên của con người không còn là tiêu chuẩn tối hậu để tìm thấy sự thật nữa.


Cảm phục trước quyền năng của Chúa các môn đệ đã “bỏ hết mọi sự mà theo Người”. Thật là một quyết định dứt khoát. Tấm lòng quảng đại của các tông đồ chính là thái độ sẵn sàng đáp trả lời mời gọi của Chúa. Ngày xưa, Chúa cũng lên tiếng kêu mời Isaia : “Ta sẽ sai ai đây ?”. Tức khắc ông đáp lại : “Dạ, con đây, xin sai con đi”.


Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, trong xã hội hôm nay làm sao chúng con có thể diễn tả Đức tin của chúng con vào Chúa ? Nhiều lúc chúng con cảm thấy đức tin của mình chao đảo bởi những nghịch cảnh xảy ra trong cuộc sống mỗi ngày. Tin vào Lời Chúa đòi hỏi mỗi người chúng con phải từ bỏ kiểu lý luận vững chắc xét theo lối người đời, để sống trọn niềm tin vào Chúa một niềm tin không lay chuyển vì cậy trông nơi Chúa là Đấng quyền năng và hằng hữu.


Hằng ngày, nếu cuộc sống của chúng con thiếu đi sự tin tưởng vào người khác, thì cuộc đời chúng con sẽ như cánh cửa bị đóng kín. Bởi vì niềm tin là nền tảng để xây dựng cuộc đời, xây dựng mối tương quan giữa con người với con người, không thể xây dựng bất cứ cái gì mà không cần đến nền tảng ấy. Nhưng Đức tin của chúng con được lớn mạnh một cách từ từ và tiệm tiến, khiến nhiều lúc chúng con khó nhận ra rằng Chúa đang đi vào đời chúng con một cách âm thầm lặng lẽ. Chính tình yêu thương mà Chúa đã làm cho chúng con mọi sư. Chúa kêu gọi chúng con ngay trong cuộc sống đời thường, qua những biến cố lớn nhỏ trong đời người. Những lúc chúng con vui mừng hạnh phúc, những lúc chúng con sắp chán chường thất vọng hay cô đơn Chúa đều mời gọi chúng con hãy đến và “Hãy trút nhẹ gánh lo vào tay Chúa”, rồi Ngài “sẽ đỡ đần cho”.


Kinh nghiệm sống cho chúng con biết nhờ có đức tin chúng con sẽ thấy Chúa luôn ở cùng chúng con. Chính niềm tin vào Chúa mà chúng con dám bỏ mọi sự để có được niềm hạnh phúc duy nhất là Nước Trời.


Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, ước mong sao trong cuộc sống hôm nay chúng con luôn biết chia sẻ niềm vui và hạnh phúc vì có Chúa cho anh chị em chúng con. Ước mong sao trong cuộc sống chúng con luôn lấy yêu thương, công bằng, bác ái, mà sống cũng như biết liên đới trách nhiệm với nhau. Xin Chúa cho chúng con luôn có Đức tin vững mạnh vào quyền năng của Chúa khi phải đối diện với những những nghịch cảnh xảy ra trong cuộc sống hằng ngày của chúng con. Amen

Giuse Nguyễn Văn Dũng op

 

ĐÀO TẠO TÔNG ĐỒ .

TIN MỪNG : Lc 5, 1 – 11

TGM Hà Nội Giuse Ngô Quang Kiệt

 

SUY NIỆM

Bài Tin mừng hôm nay tường thuật về mẻ cá lạ lùng mà Phê-rô và các bạn được chứng kiến. Đây không phải chỉ đơn thuần là một phép lạ lớn lao cho ta ngưỡng phục quyền năng của Thiên chúa. Nhưng qua dấu lạ này, Chúa Giê-su còn muốn mời gọi ta ra khơi truyền giáo. Và qua tiến trình của phép lạ, Chúa Giê-su đã áp dụng một chương trình đào tạo các môn đệ, đặc biệt là Phê-rô, người đứng đầu các môn đệ.  Chương trình đào tạo này gồm 4 điểm.

Điểm thứ nhất : cảm nghiệm về sự nghèo nàn của bản thân. Phê-rô và các bạn đang giặt lưới. Các ông mệt mỏi sau một đêm thức trắng vật lộn với biển khơi. Tâm trạng các ông chán nản sau thất bại chua cay não nề. Thế mà giờ đây, Chúa Giê-su lại bảo các ông ra khơi. Ra tận chỗ nước sâu. Nước sâu là chỗ nguy hiểm. Nước sâu là chỗ Phê-rô đã gặp thất bại. Chúa Giê-su muốn Phê-rô trở lại chỗ nước sâu để nhận thức rõ sự vô tài bất lực của bản thân. Chúa Giê-su muốn Phê-rô nhìn rõ những thất bại để ông biết khiêm nhường. Khiêm nhường là bài học đầu tiên Chúa Giê-su muốn gửi đến các môn đệ của Người.

Điểm thứ hai : cảm nghiệm về sự cao cả của Thiên chúa. Người tông đồ phải làm chứng về Thiên chúa. Muốn làm chứng phải có kinh nghiệm. Ai chưa từng gặp được Thiên chúa, chưa từng tiếp xúc với Người thì không thể làm chứng về Người. Trong những trường hợp đặc biệt, Thiên chúa thường chủ động tỏ mình ra. Chúa tỏ mình ra cho Mô-sê trong bụi gai cháy đỏ. Chúa tỏ mình ra cho thánh Phao-lô qua làn ánh sáng chói lọi trên đường đi Đa-mát. Hôm nay Chúa tỏ mình ra cho Phê-rô qua mẻ lưới lạ lùng. Lập tức Phê-rô nhận biết sự cao cả, sự thánh thiện của Chúa. Sợ hãi vì thấy mình tội lỗi, Phê-rô vội quì xuống xin Chúa rời xa. Phê-rô đã sống bên cạnh Chúa. Ông đã được tiếp xúc với Chúa. Ông đã cảm nghiệm được sự thánh thiện cao cả của Chúa. Sau này ông đi rao giảng chỉ là  để kể lại những gì ông đã mắt thấy tai nghe.

Điểm thứ ba trong chương trình đào tạo môn đệ của Chúa đó là sự vâng lời tuyệt đối. Phê-rô hẳn là rất ngạc nhiên khi Chúa Giê-su bảo ông ra khơi đánh cá, lại còn chỉ rõ nơi thả lưới. Không ngạc nhiên sao được khi Phê-rô là người miền biển trong khi Chúa Giê-su là người miền núi. Phê-rô làm nghề chài lưới lâu năm kinh nghiệm trong khi Chúa Giê-su chỉ làm nghề thợ mộc. Thế mà khi Chúa Giê-su bảo ông thả lưới bên phải thuyền, ông đã tăm tắp làm theo. Phê-rô đã vâng lời tuyệt đối. Phê-rô đã học được thái độ vâng lời của người môn đệ. Ông đã thành công. Ông đã thấy kết quả rõ ràng. Và Chúa đã đặt ông làm tông đồ trưởng.

Điểm sau cùng mà Chúa muốn người môn đệ phải có đó là sẵn sàng ra đi. Ra đi là một thái độ liều lĩnh. Vì vượt qua những khoảng không gian vật lý cheo leo. Ra khơi là chấp nhận đối đầu với phong ba bão táp. 

Vượt qua những khoảng không gian vật lý đã khó. Vượt qua những khoảng không gian tâm lý còn khó hơn. Ra đi là bỏ nơi an toàn để đến nơi bấp bênh. Ra đi là bỏ nơi quen biết để đến nơi xa lạ. Lên đường truyền giáo là bỏ lại tất cả : gia đình, thuyền bè, chài lưới. Bỏ cả nghề nghiệp cũ đã thành thạo để bắt tay vào nghề mới còn chập chững. Bỏ lưới cá để chài người.

Nhưng khó nhất chính là ra khỏi chính mình. Dù có đi xa ngàn dặm nhưng vẫn giữ những thói tật xưa cũ thì người ta vẫn còn ở khởi điểm.  Muốn lên đường người môn đệ phải ra khỏi tính tự ái tự mãn của mình. Ra khỏi những quan niệm xưa cũ hẹp hòi. Ra khỏi những ảo tưởng viễn vông. Ra khỏi thói ích kỷ chỉ nghĩ đến bản thân.

Khi đã từ bỏ tất cả, người môn đệ sẽ trở nên hoàn toàn nghèo nàn. Gia tài chỉ có niềm cậy tin phó thác hoàn toàn vào Đấng kêu gọi ta. Vũ khí chỉ có lòng vâng phục tuyệt đối vào Đấng sai ta.

Mỗi người đang được Chúa huấn luyện. Bao lâu ta chưa cảm nghiệm được sự hèn kém của bản thân, chưa cảm nghiệm được sự thánh thiện cao cả cũng như tình yêu của Thiên chúa, chưa có niềm vâng phục tuyệt đối, chưa ra đi trong tự do và khó nghèo, ta vẫn chưa thực sự trở thành môn đệ của Chúa. Chưa được đào tạo kỹ lưỡng mà đã làm việc thì phần thành công chắc chắn sẽ ít hơn phần thất bại.

 

Lạy Chúa, xin hãy dạy bảo con theo đường lối của Chúa. Amen

 

III. KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

1-Bạn có tuyệt đối vâng lời Chúa trong mọi hoàn cảnh không ?

2- Bạn có cảm nghiệm về sự vô tài bất lực của mình không ?

3- Bạn đã ra đi khỏi chính mình chưa ?

4-Bạn có cảm thấy Chúa có chương trình đào tạo mình không ?

 

TGM Hà Nội Giuse Ngô Quang Kiệt